Nhà thơ Thu Bồn trong ký ức những người cùng thời


Hà Đức Trọng có thơ đăng ở báo Quân đội
Nhân dân và tạp chí Văn nghệ Quân đội từ 1957, nhưng phải đến cuối 1964, bút danh Thu Bồn, tên dòng sông quê hương, mới được chú ý, khi ký dưới Trường ca Bài ca chim Chơ rao. Báo Văn nghệ số 84 ra ngày 4-12-1964, đã trân trọng ra một phụ trương in kiểu tờ gập bản trường ca được nhà thơ Thanh Hải, trong Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam lần đầu ra thăm Miền Bắc mang ra. Gần ngàn câu thơ kể về cuộc chiến đấu hào hùng của đồng bào Kinh - Thượng ở Tây Nguyên đã thổi bùng lên một niềm tin lớn vào thng lợi. Ngay trong cùng số báo có bài bình của nhà thơ Hoàng Trung Thông: Bài ca chim Chơ rao, một khúc hát trữ tình cách mạng, một bản trường ca về những con người chiến đấu của Miền Nam. Số báo sau, nhà thơ Nông Quốc Chấn có bài: Một bản hùng ca của những con người thép. Cũng năm 1964, Nhà xuất bản Văn học in thành sách, rồi được dịch sang tiếng Trung, cùng thời với Những bức thư từ tuyến đầu Tổ quốc, cho đến nay vẫn là một hiện tượng hiếm trong văn học hai nước.

Từ đó, hành trình chiến đấu và sáng tạo của nhà thơ là một con đường lớn, với những tác phẩm có vóc dáng vạm vỡ, một nguồn cảm hứng giàu có bắt nguồn trực tiếp từ hiện thực cuộc chiến đấu mà nhà thơ vừa là người chiến sĩ. Trong văn học kháng chiến, hiếm có tác giả nào nhận được sự đánh giá và nhận xét của những người làm cán bộ quân sự và chính trị về con người và tác phẩm như Thu Bồn.

Displaying thu bon.jpg
Nhà thơ Thu Bồn (ảnh Nhà văn)
 

 

Nhà văn Nguyên Ngọc, tác giả Đất nước đứng lên, Rừng Xà nu, người lãnh đạo trực tiếp của nhà thơ trong những năm chống Mỹ đã viết: Tất cả những ai từng gặp Thu Bồn đều có cảm giác như không phải cuộc sống lôi cuốn anh, mà chính anh lôi cuốn cuộc sống ào ào đi theo mình trong một cơn lũ sóng ào ào, vội vã, cuống quýt, cứ như lúc nào cũng sợ thiếu, cũng sợ muộn, lúc nào cũng sợ không đủ, không kịp… Ở chiến trường, Thu Bồn sống ào ạt, lao động ào ạt, viết ào ạt, yêu ào ạt. Ngay cả trong tình yêu nữa anh như lúc nào cũng sợ không kịp, không đủ. Trong lao động-lao động giữa chiến tranh và sau này, trong hòa bình, anh nổi tiếng mạnh mẽ và tháo vát. Có lần, anh một mình dựng một căn nhà gia rừng, mà là một căn nhà hai tầng hẳn hoi, cứ như một căn biệt thự gia Hà Nội!... Đi chiến đấu, Thu Bồn bao giờ cũng đòi có mặt ở mũi nhọn nhất… Và chính ở những ngày tháng khó khăn, gian khổ nhất ở chiến trường, anh viết Bài ca chim Chơ rao nổi tiếng. Xuân Mậu Thân, trước đoàn quân hàng ngàn người sắp bước vào cuộc Tng tấn công, anh đọc như thét vang:

Đà Nẵng gọi ta như mẹ gọi con

Như người yêu gọi người yêu xa cách.

Ông Phạm Đức Nam, nguyên Chủ tịch tỉnh Quảng Nam biết Thu Bồn qua mấy thời kỳ kháng chiến và xây dựng viết: Cuộc đời Thu Bồn luôn rực sáng, càng rực sáng hơn ở những bước ngoặt lịch sử đất nước, ở những thời điểm cam go nhất, quyết liệt nhất, hy sinh cao nhất của cuộc chiến tranh, nhất là thời kỳ đánh Mỹ và thời kỳ trước đổi mới của nước ta, cả thời Thu Bồn sống, chiến đấu ở nước bạn Campuchia. Chính ở những bước ngoặt đó, anh là người đi tiên phong mở đường và bao giờ cũng để lại những tác phẩm ghi dấu mốc lịch sử đó một cách chói sáng… Quảng Nam- Đà Nẵng thường là nơi bắt đầu những cuộc chiến đấu đẫm máu trong lịch sử giữ nước. Nơi đây luôn đi đầu, không dao động, không run sợ bất kỳ một thế lực độc ác lớn nào trên thế giới. Tôi nói điều này để nói lên tầm vóc con người Thu Bồn, tầm vóc thơ ca Thu Bồn. Không có những đối đầu dữ dội, quyết liệt ghê gớm đó, sẽ không có Thu Bồn, không có thơ Thu Bồn. Thu Bồn trở thành một biểu tượng anh hùng sáng đẹp của quê hương mình… Thu Bồn ngày nay vẫn y như Thu Bồn ngày xưa đánh Mỹ. Thơ Thu Bồn mạnh hơn một binh đoàn. Đó là bài thơ Đà Nẵng gọi ta, Thu Bồn viết trước cuộc xung trận vào Đà Nẵng Mậu Thân 1968.

Bộ trưởng Hoàng Minh Thắng nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, từng là Bí thư Quảng Nam- Đà Nẵng (QN-ĐN) kể lại: Được biết Thu Bồn trở vào chiến trường rất sớm. Nhưng mãi đến năm 1965, khi về Quân khu tổng kết phong trào du kích chiến tranh tại Đại hội chiến sĩ thi đua Quân khu, tôi mới gặp Thu Bồn ở vùng căn cứ Trà My. Chúng tôi quen nhau, thân nhau trong thời gian họp ở Quân khu, tối tối mắc võng nằm kể chuyện quê nhà tôi mới biết Thu Bồn sinh ra ở làng Thanh Quýt, thoát ly từ rất sớm, vào thiếu sinh quân lúc tròn 12 tuổi, vừa làm giao liên, vừa là chiến sĩ đánh giặc. Anh kể cho tôi nghe về anh, từ thời niên thiếu đến lúc trưởng thành, từ anh giao liên đến với viết văn, làm thơ, làm báo trong kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, đã tri qua những gian truân nhọc nhằn… và rồi ở anh, cái đọng lại nhiều nhất, âm vang lớn nhất: Một nhà thơ- Một Hiệp sĩ thơ tài hoa (Ông còn thuộc nhiều bài thơ của Thu Bồn). Quả nhiên đúng, Thu Bồn là nhà thơ lớn. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thơ anh như tiếng kèn xung trận, có tác dụng động viên sức mạnh toàn quân, toàn dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Ông Hồ Nghinh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, một lãnh đaọ kỳ cựu và có uy tín cao ở QN-ĐN thì tâm sự: Thu Bồn lạ lắm! Thơ Thu Bồn hay lắm! Mình ca ngợi Thu Bồn liệu có làm phiền ai không? Mình nhớ hồi 1962, mình và Thu Bồn tiếp giới học sinh, sinh viên nội thành Đà Nẵng do Lê Công Cơ đưa lên Ôray. Khi mới tới, họ thấy Thu Bồn không nói, mà chỉ làm liền tay mọi thứ, để hướng dẫn họ ổn định chỗ ở, họ tưởng anh là giao liên, hay nhiều lắm là trạm trưởng ở đây. Khi biết đó là nhà thơ Thu Bồn ở miền Bắc vào, họ ồ lên sung sướng, thán phục. Bởi khi còn ở trong thành, họ đã chép và chuyền tay nhau đọc bài thơ của Thu Bồn: Hôn mnh đất quê hương. Họ coi Thu Bồn như một thần tượng. Mà coi Thu Bồn là Thần tượng là phải. Cao lớn, đẹp trai, nói dẻo, đọc thơ rất hay, con kiến dưới lỗ cũng bò ra nghe. Họ sống với nhau không nhiều nhưng đầy kỷ niệm. Họ bu quanh Thu Bồn. Họ chép thơ Thu Bồn. Họ học thuộc thơ Thu Bồn… Ảnh hưởng của Thu Bồn với lớp học sinh sinh viên cách mạng ngày ấy rất ghê gớm. Thu Bồn là số 1. Là số 1 đó nghe.

Những năm tháng đó, thơ Thu Bồn cũng được tuổi trẻ đô thị chuyền tay nhau đọc, chép trong những cuốn sổ tay hồng của học trò bên cạnh thơ yêu nước của các nhà thơ trẻ đô thị Bài thơ Tre xanh, Mẹ Việt Nam, và sau này bài Gửi lòng con đến cùng cha viết ngày Bác Hồ mất được chép chuyền nhau trong các dịp hội họp, mít tinh. Có khi là biểu ngữ trong các cuộc biểu tình, như hai câu: Cho con núi rộng sông dài/ Cho con lưỡi kiếm đã mài ngàn năm.

Khẩu khí thơ Thu Bồn đặc biệt lợi hại khi xuất hiện trước đám đông, trước hàng quân, trong hội trường, hay cả những ngày hội thơ quốc tế ở nhiều nước sau khi Bài ca chim Chơ rao được trao Giải Bông sen của Hội Nhà văn Á-Phi, cùng đọc thơ với A. Nexto, Tổng thống Ăng gô la, các nhà thơ nổi tiếng hùng biện: K. Si mô nôp, Gam da tôp, trước bà Thủ tướng Ấn độ Indira Găngđi. Trường ca Campuchia hy vọng viết từ 1977, trước khi Campuchia được giải phóng khỏi bàn tay Khơme đỏ, được coi như có tính tiên tri, được Thủ Tướng Hun-xen đọc và đánh giá cao. Đặc biệt, trong một bài diễn văn quan trọng khi vượt đại dương, sang thăm Cu Ba, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã trích một đoạn thơ trong Trường ca này để nói về vị trí hai nước Việt Nam - Cu Ba:

Ngọn sóng qua đây thành lưỡi búa

Ngọn gió qua đây thành mũi lao

Cánh chim qua đây thành con tuấn mã

Tờ giấy qua đây thành trang sử đỏ

Quân thù nghe nói, mặt xanh như tàu lá

Chân ngựa vấp chân người, ngựa ngã

Bè bạn qua đây, con tàu nặng

Bè bạn qua đây, con sóng lặng.

Đánh giá đúng mức vị trí và đóng góp của nhà thơ, trong điếu văn đọc ở tang lễ tháng 6-2003 tại TP Hồ Chí Minh, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam có nói: Nhắc đến Thu Bồn, người ta nhắc đến một tài năng vạm vỡ, một sinh lực tràn đầy, một người triệt đ trong ý nghĩ và hành động, một người luôn phát quang để vượt lên phía trước… Thu Bồn là nhà thơ tài hoa, một người dồn đúc nhiều tài năng trong một tài năng… Thu Bồn là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của thế hệ các nhà văn chống Mỹ, là nhà văn hàng đầu của mảng văn học chiến tranh nhân dân và quân đội cách mạng. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Thu Bồn là một mẫu mực về tấm gương chiến đấu, sáng tạo vì Tổ quốc, vì nhân dân. Những tác phẩm nổi tiếng của anh sẽ còn mãi với bạn đọc Việt Nam nhiều thế hệ.

Mặc dầu được đánh giá cao như vậy, nhưng như bao người cựu chiến binh khác, cuộc sống Thu Bồn những năm cuối, nhất là sau mấy lần bị tai biến, gặp nhiều khó khăn. Không một lời than trách, nhưng khi đọc hai câu thơ: Hộ khẩu tôi nhập cuộc với tình yêu/ Thành phố hỡi! Đừng gọi tôi là tạm trú. Có đồng chí lãnh đạo địa phương đã rơi nước mắt. Không chỉ với riêng Thu Bồn, mà với bao nhiêu văn nghệ sĩ đã gắn bó máu thịt với chiến trường, đã viết nên bao nhiêu tác phẩm góp sức làm nên chiến thắng, làm rạng danh bao nhiêu chiến công của các chiến trường, họ chưa nhận được những hình thức khen tặng đúng mức, thiếu những công trình để lưu dấu những kỷ niệm về những năm gắn bó máu thịt với quân dân địa phương mình.

Với nhà thơ Thu Bồn có lẽ xng đáng với một Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội.

Nhà văn Ngô Thảo

 

Nhà thơ Thu Bồn tên thật là Hà Đức Trọng sinh ngày 1-12-1935 tại xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tnh Quảng Nam. Tháng 9-1947, gia nhập Thiếu sinh quân biệt động đội Điện Bàn. 1950-1953, giao liên huyện đội Tiên Phước, rồi vào bộ đội chính quy, chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên. Năm 1955, tập kết, rồi học ở trường sĩ quan lục quân, trường Đại học Sư phạm, trường Tuyên huấn báo chí cho chiến trường. Năm 1960, trở lại chiến trường, làm báo Quân Giải phóng Trung Trung Bộ, rồi phóng viên chiến trường Quân khu V và Tây Nguyên. 1969, bị thương, ra Bắc điều trị, về Tạp chí Văn nghệ Quân đội. 1972, chiến trường Quảng Trị. 1973-1975, chiến trường Tây Nguyên, Quân khu V, chiến dịch Hồ Chí Minh. 1976, xây dựng kinh tế và đánh Fulrô ở Tây Nguyên. 1978-1980, chiến trường Campuchia và Biên giới phía Bắc. Về hưu với cấp bậc Trung tá. Ông mất ngày 17-6-2003 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tác phẩm: 5 tập thơ, 10 trường ca, 10 tiểu thuyết, 1 tập truyện ngắn. Tác phẩm nổi bật: Bài ca chim chơ rao, Badan khát, Campuchia hy vọng, Chớp trắng, Dưới đám mây màu cánh vạc, Vùng sáng hỏa châu, Dưới tro, Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên…

Giải thưởng: Nguyễn Đình Chiểu năm 1965, Giải Văn học Á-Phi Lotus năm 1973, Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác