Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến: Háo hức lên con tàu tìm bến đỗ mới cho thi ca



(Toquoc)- Có thể nói Nguyễn Việt Chiến là một trong số không nhiều các nhà thơ háo hức kiếm tìm một diện mạo mới cho thơ Việt đương đại, mặc dù vẫn chưa vượt thoát được thơ truyền thống và cách tân trên cơ sở của truyền thống:

Thưa mẹ

hôm nay bàn chuyện thơ đi về đâu                             

trong con vẫn còn một chuyến tầu

ba mươi ba năm trước chưa trở về

 

phải chăng vì thế

những câu thơ bây giờ

vẫn phải lên đường

làm một cuộc ra đi

(Ga Hàng Cỏ dọc đường Nam Bộ)

Ông coi diễn trình đổi mới thi ca Việt như những chuyến tầu lao mãi về phía trước không ngừng nghỉ. Chuyến du hành ấy chẳng bao giờ là sớm và cũng chẳng bao giờ là muộn. Chỉ có điều, không thể không ra đi để tìm bến đỗ mới cho thơ. Đối với ông, những gì mà thơ ca Việt đã làm được dường như đều đã cũ mèm: 

Tôi đi qua 

bóng một sân ga 

chẳng con tàu nào chở tôi về phía thương yêu cũ 

chẳng con tem nào đưa tôi về địa chỉ yêu dấu cũ 

chẳng câu thơ nào cõng tôi về tuổi thơ cũ 

chẳng ánh sáng nào giúp tôi thoát khỏi những ám ảnh cũ 

chẳng con đường nào nâng tôi lên qua những dằn vặt cũ 

chẳng máy giặt nào giặt hộ tôi những đau khổ cũ 

chẳng máy điều hòa nào có thể cứu nổi một sa mạc cũ 

đang phổng phao lớn dần những đói khát trong tôi 

Bởi thế 

tôi chỉ dám cất giấu trong câu thơ chật hẹp của mình: một ít gió còm cõi từ mùa hạ cũ

một ít nắng đăm chiêu từ mùa đông cũ 

một ít mây chiều bơ vơ trên mái phố cũ 

một chút bụi tư tưởng rơi ra từ cuốn sách cũ 

một hơi ấm thì thào trong bài hát cũ 

một mùi vị hoang dại ngọt ngào trong da thịt cũ

Để nhớ về em.

(Để nhớ về em)

Bài thơ chỉ có 19 đơn vị câu, mà có tới 13 lần ông nhắc tới những cụm từ “cũ” với nhiều sắc thái tâm trạng khác nhau, từ những phía thương yêu cũ, địa chỉ yêu dấu cũ, tuổi thơ cũ, những ám ảnh cũ, những dằn vặt cũ, những đau khổ cũ, một sa mạc cũ, mùa hạ cũ, mùa đông cũ, mái phố cũ, cuốn sách cũ, bài hát cũ, cho đến da thịt cũ. Như vậy đủ biết nhu cầu làm mới trong ông, chí ít là về thơ, róng riết biết nhường nào. Thơ truyền thống đã cũ, nhưng thơ cách tân lại đang bị lãng quên. Một thực tế thật khó chối bỏ được, dù đấy là một nghịch lý:

Các nhà  thơ đương đại

và tôi

đang bị thời gian lãng quên

từng người một

từng ngày một

từng câu thơ một

khi làm xiếc trên sợi dây ngôn ngữ

chúng tôi

bắt chước thiên nhiên

gieo một tiếng thở dài 

vào cái cây bóng tồi ...

...sự lãng quên vô tình hoặc cố ý

đang dập tắt tất cả

cả sự yên ổn trong tâm hồn và mỗi câu thơ 

(Thơ đang bị lãng quên)

Thực trạng thơ bị lãng quên được thể hiện khá rõ từ phía công chúng và của chính các bằng hữu văn chương, cũng như các nhà lý luận- phê bình và lãnh đạo văn nghệ.

Khách quan mà nói, thơ Nguyễn Việt Chiến là sự pha trộn của cả ba khuynh hướng thơ đương đại: khuynh hướng truyền thống, khuynh hướng cách tân trên cơ sở truyền thống, và khuynh hướng cách tân hoàn toàn ảnh hưởng thơ của các trường phái Hiện đại, Hậu hiện đại, Tân hình thức, Tân cổ điển… từ các nước phương Âu- Mỹ.

Đây là những ám ảnh thật sự đáng sợ trong thơ Nguyễn Việt Chiến. Ám ảnh vì sự cũ mòn của mọi đồ vật, con người, ý nghĩ và tất nhiên là cả thơ nữa:

Những kẻ đi buôn, những thợ đốt lò

Giờ đã ngủ cả rồi. Đêm sắp hết

Giấc ngủ kẻ nhọc nhằn thì say xưa đến chết

Giấc ngủ kẻ tham lam thì trằn trọc suốt đời

 

Còn kẻ làm thơ chắc cũng vậy thôi

Họ mất ngủ giong buồm qua bể chữ

Họ muốn vẽ bằng lời bức tranh đáng sợ

Sự yêu thương sự phản bội con người

...

Nhưng anh biết cái thời anh phải sống

Sẽ qua đi tất cả dẫu nhọc nhằn

Thôi hãy để thơ mình gieo vỡ với gian lao

(Đêm II, III)

Còn trong bài Cát đợi được viết năm 1991, nhà thơ tự ví mình là một thứ cát khác, cũng hoang vu, nhọc nhằn và trơ trọi, chỉ khác là cát thực thì bay trắng bến sông, còn thơ và người thơ cách tân  lại bay trắng mùa mong ước này. Thế mới biết con đường đến với diễn trình đổi mới thi ca Việt đương đại lắm sự trái khoáy, nhiều cảnh trớ trêu biết nhường nào. Những tưởng, thơ cũng như đồ vật cái đã cũ thì cần vứt bỏ ngay để thay cái mới. Dường như tất cả các nhà thơ đều hồn nhiên nghĩ vậy. Nhưng, cái cũ thường có sức sống bền lâu trong tâm thức người đời hơn là cái mới. Và thi ca cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Thật đáng tiếc cho sự ngây ngô của các nhà thơ khi không hiểu hoặc cố tình quên đi qui luật muôn đời ấy. Vậy là:

Tôi hoang vu, cát hoang vu

Trăng là người khác qua đò đêm nay

Cô đơn xuống một đò đầy

Tôi chờ em phía bên này mùa đông

Cát còn bay trắng bến sông

Người còn bay trắng mùa mong ước này.

 

Tôi cầm hạt cát trên tay

Đêm không còn ấm như ngày có em

Tôi cầm cả chính tôi lên

Câu thơ nhặt được trong miền quạnh hiu

Câu thơ như cát mỗi chiều

Đem theo chút nắng ấm nghèo vào đêm.

Còn nhớ hai câu thơ của Nguyễn Việt Chiến: Tôi cầm cả chính tôi lên/ Câu thơ nhặt được trong miền quạnh hiu đã từng được Ban Tổ chức chọn để treo vào bóng bay thả về giời tại Ngày thơ Việt Nam 2014, vào ngày Nguyên Tiêu, Rằm tháng Giêng năm Canh Ngọ, tổ chức ở Văn Miếu, Hà Nội.


Hình ảnh Thêm một bài thơ nóng bỏng về Trường Sa của Nguyễn Việt Chiến số 2
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến (Ảnh: Minh Chánh/Vietnamnet)

Tuy nhiên, có một sự thật trớ trêu, nhưng không thể chối cãi được là tuy Nguyễn Việt Chiến háo hức lên con tàu để đi tìm bến đỗ mới cho thi ca Việt đương đại, nhưng những bài thơ của ông được dư luận đánh giá cao và có sức lan tỏa lớn lại là những bài thơ theo khuynh hướng truyền thống, hoặc là cách tân trên cơ sở của truyền thống như các bài: Thời đất nước gian lao, Tổ quốc ở Trường Sa, Tổ quốc nhìn từ biển, Thăng Long sử thi; Mẹ- Tổ quốc... hầu hết các bài được viết theo thể thất ngôn, bát ngôn hoặc lục bát biến thể. Vì thế có thể xếp Nguyễn Việt Chiến vào khuynh hướng thứ nhất thơ truyền thống cách tân cũng đúng, mà ở khuynh hướng thứ hai thơ cách tân cũng đúng. Và nếu căn cứ vào những bài thơ của ông được công chúng đón nhận rộng rãi thì có thể xem ông như là một nhà thơ sáng tác theo khuynh hướng truyền thống    

Đối với thể thơ lục bát, Nguyễn Việt Chiến đã rất mạnh bạo trong cách thể hiện ở các bài như: Gặp Nguyễn Du trên sông đêm; Thương nhớ sâm cầm, Các ông tiến sĩ giấy ở Văn Miếu, Thời gian của trăng, Trăm năm mắt Huế, Mây tơ tằm... Và đây là một minh chứng cụ thể:

Nỗi buồn. Chỉ có một dây.

Độc hành. Qua cõi bùn lầy. Cô đơn.

Thân đàn. Như một ống xương.

Chuốt mình. Thành khúc nhạc buồn. Của đêm...

(Đàn bầu)

Còn một mảng thơ nữa, mà tôi cho rằng chỉ có ở Nguyễn Việt Chiến. Bởi lẽ tôi đã từng đọc thơ văn xuôi của nhiều người, nhưng thuật ngữ (khái niệm) truyện-ngắn-thơ  thì có lẽ ông là người đầu tiên đưa vào thi đàn. Thơ văn xuôi, trước hết vẫn là thơ, dù cho không nhất thiết phải quan tâm nhiều đến vần điệu, ngắt câu, xuống dòng. Còn truyện- ngắn- thơ thì ngược lại, trước hết phải là một câu chuyện được kể có đầu có cuối. Yếu tố tự sự được đặt lên hàng đầu, rồi mới đến ngôn ngữ thể hiện bằng thơ. Thể loại này có những nét tương đồng với các trường ca, sử thi cổ đại. Có khác, một bên là truyện ngắn và một bên là tiểu thuyết sử thi, còn ngôn ngữ thể hiện tương đối giống nhau. Các truyện- ngắn- thơ của Nguyễn Việt Chiến in trong tập Trăng và thơ đọc chậm như: Gặp Nguyễn Du trên sông đêm, Sự nổi loạn của tranh, Nước mắt của trăng, Mùi Tiên. Ở đây có những truyện ngắn khá hay và nhuyễn, khiến khi đọc người ta cảm thấy chẳng khác nào một bài thơ. Lại cũng có những truyện ngắn kết hợp với thơ như ở truyện- ngắn- thơ Gặp Nguyễn Du trên sông đêm. Không những thế mà còn là thơ lục bát truyền thống được cách tân hay còn gọi là lục bát biến thể.

*

Thế mới hay công cuộc cách tân thơ của Nguyễn Việt Chiến diễn ra hết sức nhọc nhằn. Tuy nhiên, ông và một số người đi theo khuynh hướng này mới chỉ đặt được những viên gạch lát đường đầu tiên. Để có một nền thơ ca đương đại Việt theo khuynh hướng này, với đúng nghĩa của nó, chắc hẳn không thể một sớm một chiều, cũng không thể là tâm trí và sức lực của một vài người nào đấy làm nên, vài cánh én chưa thể làm nên cả mùa xuân, mà rất cần sự đồng thuận, chia sẻ của công chúng, những người say mê tìm tòi, sáng tạo ngõ hầu tìm cho thơ một sức sống mới, vượt thoát khỏi sức ì của lối thơ ngâm vịnh, tụng ca đã có trong truyền thống thi ca Việt hàng ngàn năm nay.

Sự mạnh bạo ấy trước hết là ông muốn phá bỏ những thói quen, lối mòn xưa cũ mà không ít người nhồi nhét vào đấy những thứ không phải là thơ rồi đặt cho nó một cái tên khá kêu: truyền thống. Bởi lẽ truyền thống bao giờ cũng có hai mặt: tích cực và tiêu cực, hay và dở. Đã có không ít kẻ nhân danh truyền thống để làm những trò xằng bậy, trong đấy không loại trừ thơ. Nếu một bài thơ dở được viết theo khuynh hướng truyền thống liệu có ích gì cho con người và xã hội hôm nay. Truyền thống đâu phải là cái bị rách của Thượng đế quẳng xuống cho loài người, rồi ai muốn nhét gì vào đấy cũng được. Nên nhớ rằng nếu truyền thống là những cái hay, cái đẹp thì cần bảo tồn và phát huy giá trị và nó sẽ có sức sống trường tồn trong tâm thức người đời, còn cái dở thì phải kiên quyết dẹp bỏ nó đi. Mà đã là cái hay, cái đẹp, cái tích cực thì làm gì có sự phân biệt giữa truyền thống hay cách tân. Đối với thơ, không có truyền thống và hiện đại hay hậu hiện đại mà chỉ có thơ hay và thơ không hay, hoặc thơ dở mà thôi. Chỉ tiếc rằng thói quen của không ít công chúng thơ hôm nay do ươn lười trong suy nghĩ và hành động ngõ hầu làm đổi thay thế bộ mặt của thi ca, nên cứ nằm khèo, vuốt bụng viết ra những cái không phải thơ, rồi nhét hết vào cái bị truyền thống, chỉ làm khổ người đọc./.

Đỗ Ngọc Yên

 

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến

Sinh ngày 8 tháng 10 năm 1952, ở Chàng Sơn, Thạch Thất, Hà Tây cũ, nay là thành phố Hà Nội

Là nhà báo và nhà văn đã từng làm việc tại Báo Văn nghệ, báo Thanh Niên và báo Người Hà Nội. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, Ủy viên BCH Hội Nhà văn Hà Nội. Một số bút danh khác ông dùng khi làm thơ là Nguyễn Văn Nguyễn, Từ Kim Việt.

Các tác phẩm từng công bố: Mưa lúc không giờ (Thơ, Nxb Hội nhà văn, 1992); Ngọn sóng thời gian (Thơ, Nxb Thanh Niên, 1998); Cỏ trên đất (Thơ, Nxb Quân đội nhân dân, 2000); Những con ngựa đêm (Thơ, Nxb Hội nhà văn, 2003); Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975- 2005 (Phê bình và tiểu luận, Nxb Hội nhà văn, 2007); Tổ quốc nhìn từ biển (Thơ, 2011); Trăng và thơ đọc chậm (Nxb Hội Nhà văn 2012)

Nhà thơ từng nhận được các giải thưởng như: Giải nhì Cuộc thi thơ báo Văn Nghệ, Hội Nhà Văn Việt Nam (1989-1990); Giải nhì cuộc thi Thơ hay về biển của Vũng Tàu (1992); Giải nhì cuộc thi Thơ Tạp chí Văn nghệ 1998- 1999; Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội (2004) và Hội Nhà văn Việt Nam (2004) cho tập thơ Những con ngựa đêm.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác