Nhà thơ "Ngoài cuộc đời"

Ngô Minh

Hơn 20 năm ở miền Bắc và 32 năm nay đối với cả nước, cái bìa hộ khẩu là cái bùa hộ mạng, được coi ngang với mạng sống con người. Một thời, người ta hay gọi những người không hộ khẩu là “người ngoài cuộc đời”.

Nhà thơ
Nhà thơ Hải Kỳ
Thời bao cấp, có hộ khẩu mới có tem phiếu gạo, vải, đường, củi, muối, thịt, cá… nghĩa là mới có cái ăn, cái mặc để sống được, dù là sống lay lắt qua ngày.

Một thời, nếu thấy bạn bè mặt tái xám, thất thần, ai cũng sốt sắng hỏi ngay:” Sao mặt ông như mất sổ hộ khẩu (hay mất sổ gạo) vậy?”.

Hộ khẩu thiết yếu thế, mà lại có người không sống bằng hộ khẩu, hay nói cách khác, không hộ khẩu vẫn sống khỏe. Đó chính là nhà thơ Hải Kỳ ở thành phố Đồng Hới - Quảng Bình.

Hải Kỳ, tên thật là Trần Văn Hải, cùng học cấp 3 trường huyện với tôi và các nhà thơ Đỗ Hoàng, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Đình Ty… Anh quê Lệ Thủy, nhưng sinh ra ở Xóm Câu, Đồng Hới năm 1949, tuổi Kỷ Sửu.

Khi Hải Kỳ đang học lớp 10 (tức lớp 12 bây giờ) ở Ngư Hoá, miền Tây Quảng Bình, nơi sơ tán của Trường cấp 3 Lệ Thuỷ, thì nhận được tin mẹ anh trúng đạn rốc két, máy bay Mỹ bắn chết ngay cách trận địa pháo phòng không bảo vệ Cầu Rào chợ Ga Đồng Hới 50 mét.

Mẹ mất ngay trên tay của các chú bộ đội, không cấp cứu kịp. Thế là mẹ và chị gái mẹ đều hy sinh ở mặt trận. Bà dì ruột Hải Kỳ, chị của mẹ, là liệt sĩ chống Pháp, hy sinh năm 1947 trong trận đánh đồn Minh Lệ. Những nỗi đau này in đậm trong thơ Hải Kỳ.

Hải Kỳ chỉ còn lại hai anh em trai nuôi nhau. Bố đi Nam từ trước năm 1954. Sau ngày giải phóng mới biết ông làm nghề lái xe đò ở Sịa, Thừa Thiên - Huế. Vì lý lịch “bố đi Nam” như thế, Hải Kỳ không được đi đại học mà chỉ được đi học “10+3” (tức lớp 10 học 3 năm sư phạm ra dạy cấp 2).

Hải Kỳ làm thơ từ thời học sinh phổ thông. Đến nay đã xuất bản 4 tập, trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1994. Thơ Hải Kỳ được nhiều bạn trẻ sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Huế, ở Đồng Hới rất thích.

Họ chép và thuộc nhiều bài thơ của Hải Kỳ vì thơ tài hoa, sắc sảo, nhất là thơ lục bát. Riêng tôi có thể đọc thuộc lòng hàng chục bài thơ Hải Kỳ.

Trong các nhà thơ miền Trung hiện nay, Hải Kỳ là tác giả được công chúng yêu thơ rất mến mộ. Thơ Hải Kỳ là cái “tình thật”, là cái đắm say nồng nàn thật.

Bao âm điệu buồn vui đời thực / Tất cả vào tôi và hóa thành thơ / Sống hết mình, tôi không làm kẻ khác / Tôi là tôi như thể tự ngày xưa. Ở quán nhậu, hay trong cơ quan, nơi nào có Hải Kỳ xuất hiện là mọi người đề nghị anh đọc thơ.

Và anh chiếm luôn diễn đàn từ đó. Thêm vài ba chén “quốc lủi” Hải Kỳ đọc thơ càng bốc, càng cuốn hút… Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm trong tác phẩm “Nghìn câu thơ tài hoa” dày gần 900 trang (NXB Văn học - 2000) đã chọn Hải Kỳ đến 6 câu “thơ tài hoa”.

Ví dụ câu: Biết là nhớ cũng bằng không / Tôi ra cửa biển ngồi trông cánh buồm (Tôi ra cửa biển); hay Nếu mà tôi chẳng gặp em / Làm sao tôi biết chiều êm mặt hồ / Không gian lên núi tôi chờ / Thời gian xuống nhẹ như tờ thư rơi… (Nếu mà tôi chẳng gặp em); hay Tiếng con chim phật nghe rồi / Cứ nghi hoặc đấy là lời hư vô / Như là từ xửa từ xưa / Khổ đau luyện mãi mà chưa thoát trần…(Thăm Chùa Báo Quốc).

Riêng tôi cũng có thể kể ra hàng chục câu thơ lục bát hay của Hải Kỳ. Đối với nhà thơ, cả núi đèo hiểm trở cũng vì tình yêu mà sinh ra, mà hiển hiện: Rồi sẽ trở về em / Nghìn năm sau vẫn thế / Núi đèo và điệu lý / Cũng chỉ vì nhau thôi...

Cả cây thông trên đồi Thiên An cũng “dạy” cho người “cách yêu”: Chao ơi cây nối liền cây / Người sao chẳng biết cầm tay với người... Và nỗi nhớ nàng thơ xứ Huế của Hải Kỳ còn đậm đặc hơn chuyện nàng Tô Thị trong cổ tích: Ai nhìn hóa vọng phu kia / Tôi nhìn cho đến đứt lìa chân mây; Hay Trắng như là chẳng có gì / Trắng như là buổi người đi không về ( Hạt cát).

Hải Kỳ là nhà thơ trực cảm mạnh. Anh rất ghét bệnh phô trương hình thức. Hồi đi học Đại học Sư phạm Huế, “đạo đức” Hải Kỳ luôn luôn bị thầy giáo xếp loại thấp.

Anh ngạc nhiên: Người ta xếp loại đạo đức tôi thấp vì : đáng lẽ ở trong phòng, tôi lại đi lang thang / đáng phải ngồi nghe, tôi đi tìm bạn / đáng phải nghĩ suy thì tôi xúc cảm / đáng phải trả lời tôi lại lặng im / để tôi ra trò chuyện với thiên nhiên / được đầy ắp những điều chân thật nhất.…

Là giáo viên dạy văn rất giỏi, Hải Kỳ nhiều lần được Sở Giáo dục Bình Trị Thiên (cũ) điều động từ Đồng Hới vào dạy bồi dưỡng học sinh giỏi văn của tỉnh để đi thi học sinh giỏi toàn quốc.

Dạy văn giỏi có tiếng, nhưng ở trường cấp 2 Lý Ninh, nơi Hải Kỳ giảng dạy gần 20 năm liền, người ta tổ chức học thêm dạy thêm, “luyện thi” vào cấp 3 để thu tiền học trò, Hải Kỳ đều cho là vô đạo, nên phản đối, không bao giờ tham gia.

Thậm chí đến việc chấm bài thi văn cuối năm của học trò, Hải Kỳ cũng xin từ chối, vì “nếu tôi mà chấm thì các em sẽ không đậu cao được, bởi tôi chấm thực”.

Vì bức xúc với chuyện học thêm, dạy thêm, bệnh thành tích nặng nề trong thi cử, Hải Kỳ đã xin về hưu trước tuổi đến 5 năm… Đáng lẽ đến năm 2009 mới đủ tuổi hưu, Hải Kỳ đã về hưu từ 2004.

Quen thân với Hải Kỳ như anh em ruột thịt, thế mà mới đây ra Đồng Hới tôi “té ngửa” khi biết cuốn sổ hộ khẩu gia đình Hải Kỳ chỉ có 7 nhân khẩu: gồm vợ, hai đứa con trai, hai con dâu và hai đứa cháu nội.

Còn nhân khẩu Hải Kỳ là chủ gia đình, chủ hộ, là chồng, là cha, là ông nội thì không biết trôi dạt đi đâu từ lâu lắm rồi! Vì không có trong hộ khẩu, nên tất cả việc gì mà phường xã, chính quyền cần đến “chủ hộ” như hợp đồng điện, xin phép xây nhà, bầu cử đại biểu Quốc hội... chị Lý, vợ nhà thơ phải... gánh vác hết.

Lần tìm nguyên nhân vì sao Hải Kỳ không có tên trong sổ hộ khẩu gia đình chắc phải mất nhiều công sức lắm. Tôi hỏi, Hải Kỳ chỉ nói qua quýt rằng: “Có thể ngày xưa tên mình có trong sổ hộ khẩu tập thể của nhà trường, mà mình ham thơ, ham chơi, không thích đến chầu chực nơi công quyền, nên không cắt về, thế thôi…

Hải Kỳ học xong “10+3” ra dạy học ở trường cấp 2 Đức Ninh từ năm 1969. Năm 1973, cưới vợ, vẫn không lập hộ khẩu gia đình riêng. Đến khi sinh 2 đứa con trai, làm sổ hộ khẩu gia đình, Hải Kỳ cũng ngại chầu chực “cắt hộ khầu”, nên cứ để ở sổ hộ khẩu tập thể giáo viên trường.

Năm 1980, Hải Kỳ cắt hộ khẩu đi học Đại học Sư phạm Huế. Năm 1984, tốt nghiệp ra trường, về dạy Trường cấp 2 Lý Ninh cho đến khi nghỉ hưu. Có thể Hải Kỳ đã quên nhập hộ khẩu cắt từ Trường Đại học Sư phạm về để nhập vào sổ hộ khẩu gia đình, rồi quên mất ở đâu đó.

Hoặc đã lại nhập lại vào sổ hộ khẩu tập thể của trường. Nhưng, dần dà tất cả các giáo viên đều lập gia đình, có sổ hộ khẩu riêng hết. Rồi không ai để ý đến cuốn sổ hộ khẩu tập thể một thời “chúng ta” ấy nữa. Nó nằm ở tủ hồ sơ tài liệu nào cũng không được ai biết mà tìm.

Chế độ cung cấp tem phiếu rồi cũng mất dần, Hải Kỳ cũng không được ai cắt chuyển đi đâu, nên vấn đề hộ khẩu đối với Hải Kỳ không còn quan trọng nữa. Mà Hải Kỳ cũng chẳng bao giờ hỏi mọi người hộ khẩu của mình nằm ở đâu, nên không ai biết mà tìm giùm.

Hải Kỳ thì thích tự do, không muốn ràng buộc, bon chen, thế là mất tăm cái tên trong sổ hộ khẩu cho đến bây giờ! Cũng có lần Hải Kỳ nghĩ đến việc tìm cách để có tên mình trong hộ khẩu gia đình, thì chị Lý -vợ anh- cười và tuyên bố: “Không hộ khẩu mấy chục năm nay có sao đâu , thôi nhập làm gì nữa!”.

Viết những điều “không ai tin” về hộ khẩu nhà thơ Hải Kỳ tôi muốn nói một điều tâm đắc: Hoá ra, đối với một số người như Hải Kỳ, không có hộ khẩu cũng không sao! Nhà thơ của chúng ta vẫn sống khỏe, vẫn sinh con, sinh cháu, vẫn làm ra thơ say đắm lòng người.

Cho nên các cơ quan chức năng nên có một cách quản lý hộ khẩu thế nào đó cho cực kỳ đơn giản, cực kỳ thuận tiện cho người dân. Đừng biến hộ khẩu thành nỗi sợ hãi, thành mạng sống của mỗi con người...

Nhưng rồi tôi lại bảo Hải Kỳ rằng, cậu lên phường hoặc thành phố Đồng Hới, ở đó họ có cuốn sổ lưu hộ khẩu dày cộp. Đưa giấy nghỉ hưu, giấy kết hôn, rồi nhờ họ tra “từ điển” xem có tên mình thì cắt về hộ khẩu gia đình.

Phải có tên trong hộ khẩu gia đình, chứ đến khi lên đại lão, đau bệnh nằm xuống, không có hộ khẩu trên dương gian thì dưới âm phủ cũng không “nhập” được đâu! Hải Kỳ cười: “Gay thế à…”.

Rồi như nhớ ra điều gì hệ trọng, Hải Kỳ rưng rưng nước mắt: “Từ hơn 10 năm nay, mình đã viết bài thơ “Người phu mộ”, viết tặng những người phu đào huyệt ở nghĩa địa để chôn mình khi chết. Cậu nói đến nhập hộ khẩu âm phủ mình lại nhớ đến họ. Chính họ sẽ cho mình nơi an nghỉ…

Bỗng nhớ lại như đã từ lâu lắm/Tôi nằm yên trong ruột đất quê huơng/Người phu mộ với bàn tay lạnh cóng/Đỡ cho tôi xuống nghĩa địa bên đường/Người phu mộ già nua hiện thân trường cửu/Tóc bạc phơ đổ bóng huyệt ban chiều/Tay run rẩy đào sâu ruột đất/Chôn lặng thầm bất hạnh tình yêu/Và nghĩa địa bên đường tôi là người mới đến/Xưa sống nhiệt cuồng sướng khổ với buồn vui/Người phu mộ sẽ là em thương mến/ Đắp cho tôi nhưng xin chớ ngậm ngùi...


Đồng Hới- Huế, 6/2007
Nhà thơ Ngô Minh

(Tiền Phong)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác