Nhà thơ Lê Đại Thanh- Người yêu chuyện cổ tích nước tôi

Nhà thơ Lê Đại Thanh xuất thân từ một gia đình trí thức. Ông sinh ngày 08/5/1907 tại Hải Phòng. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957, Hội viên Hội Văn nghệ Hải Phòng từ ngày đầu thành lập 06/01/1964.

Nhà thơ Lê Đại Thanh- Người yêu chuyện cổ tích nước tôi  - ảnh 1
Chân dung nhà thơ Lê Đại Thanh qua nét vẽ của con trai ông - Hoạ sĩ Lê Đại Chúc
Trong lý lịch hội viên Hội nhà văn Việt Nam, Lê Đại Thanh viết:
"Mẹ tôi đẻ tôi ra sau những năm Nga- Nhật chiến tranh (1907) trên bờ con sông Đào, Hải Phòng. Thế giới của tôi là cái thành phố công nhân mới tạo lập đầy đầm ao, đầy những tiếng ếch, tiếng ễnh ương, tiếng hát của Tây say, của đám lính thuỷ Pháp đổ bộ vào các nhà chứa... Tôi yêu tha thiết cái thế giới nhỏ bé của tôi, cái trường học do ông Thông Vôi lập ra ở phố Cầu Đất. Tới năm 1914-1918 Đại chiến thế giới lần thứ nhất thì tôi mồ côi mẹ. Tôi lại sống một giai đoạn đầy lính chào mào đi tòng chinh sang Pháp với đám lính thợ không nghề..."

Sau đó vào học trường Bonnal, nay là trường phổ thông trung học Ngô Quyền- Hải Phòng năm 1922 đỗ Certificat. Lên trung học Bảo hộ (trường Bưởi) Hà Nội học tiếp và tốt nghiệp bằng Diplome.

Cuộc đời làm thơ bắt đầu từ năm 1922 với cuộc thi thơ "Ngàn năm văn vật đất Thăng Long" của báo Đông Pháp, thể lệ và yêu cầu thi rất dễ dãi: "Ai gửi thơ về, bấp chấp hay dở, thất niêm thất luật đều cho lên khuôn" (!)

Tiếp đó thi vào ngành sư phạm, năm 1927 ra trường, được bổ về dạy học ở Nam Định Năm 1932 đổi đi Hoà Bình. Năm 1934 lên Cao Bằng. Cuối cùng, năm1941, trở về dạy ở Hải Phòng.

Lê Đại Thanh vừa dạy học, viết báo, làm thơ, viết kịch và diễn kịch. Được giải thưỏng báo Ngày Nay (của Tự Lực văn đoàn) với vở "Hai người trọ học", cùng năm với hai giải chính thức "Kim Tiền" của Vi Huyền Đắc và "Bỉ Vỏ" của Nguyên Hồng. Trong năm 1936-1945 thường viết cho các báo Đông Tây, Ngày Nay, Chuyện đời. Năm 1940, tham gia nhiều phong trào hoạt động cách mạng Hải Phòng, do đó năm 1945 bị chính quyền Nhật bắt giam ba tháng.

Tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám và được cử phụ trách công tác tuyên truyền của Uỷ ban cách mạng lâm thời Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Pháp, hoạt động ở liên khu Ba, từng là phó giám đốc Sở tuyên truyền liên khu Ba, sau đó chuyển sang hoạt động trong Hội văn hoá cứu quốc.

Tham gia Đại hội thành lập Hội văn nghệ Việt Nam (1948). Sau năm 1954, là cán bộ biên tập tuần báo Văn nghệ. Sau đó chuyển về sống và viết tại Hải Phòng cho đến khi qua đời.

*

Cuộc đời nhà thơ Lê Đại Thanh có nhiều điều lạ, theo nhà thơ Vân Long trong cuốn sách: "Những gương mặt những trang đời". Năm 1932-1935 ông dạy học ở Hoà Bình và Nước Hai. Học trò của ông là Nam Cao và tướng Bằng Giang. Ông là diễn viên, rồi đạo diễn, sau đứng ra thành lập đội kịch lấy tên là Lê Đại Thanh - Lan Sơn. Năm 1940, ông tham gia nhóm hoạt động cách mạng của Nguyễn Công Mỹ, bán báo bí mật, mua súng ngắn gửi lên chiến khu. Những năm chộn rộn sục sôi trước Cách mạng Tháng Tám, bài thơ đầu tiên của ông in ra 3000 bản tán phát như truyền đơn đó là bài Chương Dương hành khúc bài thơ dài gần trăm câu độc vận. Bài thơ chứa đầy hào khí, ông từng ngâm sang sảng giữa nhà hát Tây:

Đêm nay trăng tỏ soi trăm dặm

Lau kiếm trường vĩnh biệt thê nhi

Ngày mai đi giữa rừng thương giáo

Hành quân mắt rõi bóng tinh kỳ

Năm 1945 ông đứng trong Uỷ ban Cách mạng lâm thời Hải Phòng. Nếu ông cứ đi đường hành chính không có sai phạm gì, hẳn khi về hưu ông đã có một chức vụ đáng kể nhưng máu nghệ sĩ trong ông đã lái ông sang một số phận khác...

Người vợ thân yêu của nhà thơ Lê Đại Thanh, bà Đinh Ngọc Anh là con gái nhà Vạn An Trường, một trong vài ba "danh gia" như Vạn Vân, Bạch Thái Bưởi... của Hải Phòng xưa. Bà Đinh Ngọc Anh có thời hoạt động trong đoàn kịch Gió Biển, từng đóng vai bà mẹ trong vở "Bức ảnh" của Nguyễn Văn Niêm. Năm 1956 bà là người đầu tiên đóng vai người con gái đất đỏ Võ Thị Sáu.

Các con của ông bà đều là những nghệ sĩ nổi tiếng.

Chị Lê Mai nghệ sĩ sân khấu lấy nghệ sĩ Trần Tiến sinh được ba người con gái: Lê Khanh, Lê Vân, Lê Vi, đều là những nghệ sĩ tài danh.

Người con trai cả của ông bà: anh Lê Đại Châu. Bút danh Lê Minh Châu là một trong những hội viên tham gia thành lập Chi hội Văn nghệ Hải Phòng. Đã có thơ, truyện và ký đăng trên các tập sáng tác của Hải Phòng và các nhà xuất bản Lao Động, Thanh Niên từ nhũng năm 1960.

Người con trai út của ông bà: anh Lê Chức, trước là diễn viên của đoàn kịch nói Hải Phòng, rồi Giám đốc nhà hát Cải lương, rồi phó chủ tịch Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam; từng đạo diễn nhiều vở như Lôi Vũ, Nỗi đau tình mẹ, Trả lại tên cho anh, Một nửa đi tìm... Giống như bố, cùng với sự nghiệp sân khấu anh cũng làm thơ. Tập thơ đầu tiên của anh: Từng ngày của mặt trời, NXB Hội nhà văn 1995.

Người con trai thứ năm của ông bà: Hoạ sĩ Lê Đại Chúc. Nhà bình luận mỹ thuật Pháp Cyryl Lapointe nhận xét: "Lê Đại Chúc là một hoạ sĩ đúng với nghĩa của từ này. Ông đã vượt qua được cái hời hợt bên ngoài cổ truyền và hiện đại, lãng mạng hay hiện thực, trừu tượng hay tượng trưng". Lê Đại Chúc rất thích vẽ chân dung, có lẽ bức chân dung nhà thơ Lê Đại Thanh là bức đẹp nhất thể hiện sự cao quý, sự huyền bí đã được bán ở Mỹ với giá 6.000 đô la.

Ở Việt Nam hiếm gia đình nào ba thế hệ đều làm nghệ thuật mà toàn những người nổi tiếng như gia đình nhà thơ Lê Đại Thanh!

Nhà thơ Lê Đại Thanh sống gần hết thế kỷ 20 (1907-1996) ông có hơn 70 năm gắn bó với THƠ với Hải Phòng, các thế hệ cầm bút ít nhiều đều có những kỷ niệm về ông. Ông từng đi bộ ra các huyện ngoại thành như Tiên Lãng, Vĩnh Bảo gặp gỡ các bạn làm thơ trẻ để góp ý thơ các bạn làm thơ trong thành phố thì thường xuyên được gặp ông. Bao giờ ông cũng nồng nhiệt đọc thơ, chép tặng thơ. Ông ít khi lưu bản thảo và gửi bài đăng báo. Nhiều người kể khi gặp ông, lúc chia tay ông cũng đấm mạnh tay xuống bàn: Mặt trời thi ca sẽ mọc ở nơi này! người nghe như được tiếp thêm sức mạnh!

Năm 1956 hai bài thơ "Tôi yêu chuyện cổ tích nước tôi" và "Đám cưới chuột đỏ xanh" của nhà thơ Lê Đại Thanh ra mắt bạn đọc lập tức gây tiếng vang và nằm trong sổ tay người yêu thơ, thế mà đến tháng 7-1987 tập thơ duy nhất Những ngôi sao biển gồm 33 bài thơ NXB Hải Phòng ấn hành chào đời! sau này tập hợp in chung trong Tuyển tập thơ và hoạ của ba cha con: Lê Đại Thanh, Lê Chức, Lê Đại Chúc.

Nhà thơ Lê Đại Thanh người mê say thơ suốt đời, là tấm gương lao động lấy chất lượng làm đầu vì thế năm tháng đi qua người yêu thơ vẫn nhớ tới ông một nhà thơ đích thực: Cả cuộc đời đắm đuối vì THƠ!

Trần Quốc Minh

-------------

* Giới thiệu một số bài thơ của Nhà thơ Lê Đại Thanh

 

Tôi yêu chuyện cổ tích nước tôi

 

Tôi khổ như chàng trai tương tư

Tìm em hò hẹn tự bao giờ

Em là cô gái đi hài đỏ

Rắc bướm hoa vào những giấc mơ

 

Tôi bé nhưng tôi đã biết rồi

Em là cô Tấm của đời tôi

Bụt về cả những đêm tôi khóc

Đám hội làng bên chẳng được mời

 

Nước mắt em là chuỗi ngọc xanh

Mắt tôi sông nước sáng long lanh

Em ngồi đãi thóc chiêm mùa trộn

Tôi bắt chim vàng thả lượn quanh

 

Tôi yêu Sơn Tinh chòm râu thưa

Thắt núi quả bồng gọi gió mưa

Mây bay

bão chuyển

tan sông nước

Thuỷ Tinh thua trận lạy xin chừa

 

Cô gái nhà bên mặc áo nâu

Sọ Dừa lăn lóc đợi chăn trâu

Giáng Kiều câu chuyện người xưa kể

Hiện giữa tờ tranh hội Bích Câu

 

Rồi lớn khôn tôi bỏ giếng làng

Giậu hoa kèn tím mảnh đây lang

Tôi mơ cưỡi ngựa cầm roi sắt

Giết giặc Ân trên các nẻo đường

 

Mây bắc cầu vồng chân núi lụa

Gió rung nắng ngọc xóm hoa đào

Tôi là Từ Thức về thăm động

Cây lá đêm rừng mũ đội sao

 

Em tuổi hai mươi mắt sáng ngời

Yêu anh bộ đội đón mừng tôi

Bát chè tươi

khói xanh

men ngọt

Tôi uống chè hay uống mắt ai

 

Tổ quốc tôi giàu chuyện ái ân

Chuyện thần tiên đến với nhân dân

Nước tôi (cô Tấm bao người giúp )

Hất một ngai vàng sụp dưới chân

 

Đất hẹp trôi nhanh biển sóng người

Từng trang thần thoại sáng trong tôi

Em là cô gái đi hài đỏ

Trẩy hội đêm trăng vượt núi đồi

 

Tổ quốc trưởng thành bao Thánh Gióng

Sơn Tinh đuổi giặc núi Ba vì

Giặc bò lổm ngổm như cua cáy

Tôi nhổ tre làng trụi lối đi

 

Câu chuyện người xưa hoá chuyện mình

Thạch Sanh cầm búa chém trăn tinh

Cung thần bắn gãy đôi xương cánh

Đại Bàng bay quanh vùng Khe Sanh

 

Tiên Dung gặp mặt Chử Đổng Tử

Một đêm xây dựng một đô thành

Cổ tích điểm tô trang lịch sử

Tổ quốc tôi cười đôi mắt xinh.

 

Đám cưới Chuột đỏ xanh

 

Tôi nhớ ngày xưa mẹ già đón Tết

Phiên chợ cuối năm mua tờ tranh đám cưới chuột

Chuột lớn

Chuột con

Chuột đỏ

Chuột xanh

Đánh trống, thổi kèn, râu ngửa vênh vênh

 

Chuột chú rể ngồi trên lưng ngựa trắng

Cầm roi liễu

Mắt nhìn cao lơ lẳng

Chuột cô dâu che quạt tím theo sau

Khênh kiệu son có bốn chuột khênh hầu

Âm nhạc: sáo, tiêu, nhị, hồ, trống bỏi

Đàn chuột đi vui như ngày trẩy hội

Tâm hồn tôi

Mảnh kính ánh muôn màu

Sáng từng giây lộng lẫy giữa đêm sâu

Giấc mơ nhỏ

có bướm vàng hoa lá

Tôi mơ ước tôi là chàng phò mã

Gặp em là cô gái đi hài thêu

Tuổi ấu thơ chưa rõ ý thương yêu

Chuyện thần thoại sáng vì sao tưởng tượng

 

Yêu đát nước người nông dân đồng ruộng

Mỗi xuân về bôi phấn vẽ tranh

Tranh lợn

Tranh gà

Đám cưới chuột đỏ xanh

Cô Tố nữ thoa son moi hồng cánh kiến

 

Mặt vách nhà tôi mỗi ngày Tết đến

Chú cóc cầm roi dạy học nghiêm trang

Chị ỉn lưng xanh

Anh ỉn khoanh vàng

Đủng đỉnh khoe màu giữa lòng đêm tối

Em đến đời tôi mùa xuân mở hội

Cô gái rơi hài mặc áo cô dâu

Nhà nghèo đám cưới vải nâu

Chiếc nón tỉnh Thanh lá gồi bẻ trắng

Em đến đời tôi bốn mùa mưa nắng

Đêm sáng trăng đập lúa sân rêu

Tôi vẫn mơ

em mặc yếm

phẩm điều

Tôi cưỡi ngựa đi giữa đường võng lọng

 

Rồi khói lửa thắt khăn tang cuộc sống

Không giết nổi người nông dân lao động

Yêu tranh lợn gà như yêu vợ yêu con

Mỗi xuân về cô Tố nữ thoa son

Lại gẩy đàn tranh gõ xênh đón Tết

 

Đất nước Việt Nam ngàn năm bất diệt

Màu phẩm son, bàn khắc mộc đơn sơ

Còn người tôn trọng đời thơ

Còn người xây dựng giấc mơ tâm tình

Đám cưới chuột đỏ xanh

Âm thầm kéo quân đi trên vách

Chiếc roi tre điểm sách

Họ cóc học đánh vần

Vợ chồng nhà ỉn kiễng chân

Xoắn tít cái đuôi đinh ốc.

Hà Nội 1956

 

Ngây thơ

 

Ú tim

Em đi tìm

Tôi đi nấp

Chân lý bên này bên kia trái đất

Ta yêu con người ta mãi tìm nhau

Sân gạch : Đại dương

Xếp đá

Làm cầu

 

Ú oà !

Tôi đi ra

Em vào bóng tối

Mười ngón tay mành mành đan vội

Em nhìn thấy tôi em mãi đi tìm

Tôi biết em mở mắt mà tôi không nói

Trò chơi ngày thơ như một cuộc săn đuổi

Mặt trời ở trên

Ta đi ở dưới

 Hà Nội 1985

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác