Nhà thơ Cẩm Lai một thời áo tím

Lý Thị Trung

Vào những năm từ 1963-1980, gia đình tôi và gia đình chị Cẩm Lai cùng sống trong khu nhà tập thể ở phố Lò Đúc. Mỗi gia đình gói gọn trong căn hộ 20m2. Lũ trẻ hai nhà sàn tuổi nhau và rất thân nhau. Tôi ít tuổi hơn nhưng hai chị em thân thiết với nhau lắm. Lúc ấy chị Anh Thơ ở cùng phố nên ba chị em luôn có những cuộc kéo sang nhà nhau ăn uống thật vui, dù chỉ là bún chấm mắm tôm hoặc bánh cuốn Thanh Trì đổi bằng gạo.

Quên sao được cái thời bao cấp vất vả, mỗi khi có tin cửa hàng thực phẩm hay rau quả ở đầu phố có cá bể, đậu phụ hoặc xu hào, bắp cải.. là lũ trẻ hai nhà ríu rít rủ nhau, xếp hàng cho nhau bằng những chiếc rổ rá rách. Nhiều lần đang ngồi làm thơ, chị Cẩm Lai cũng phải buông bút ra dặn dò các con. Đúng là “cơm áo không đùa với khách thơ”.

Chị vốn khiêm tốn không nói về mình bao giờ nhưng qua bạn bè đến thăm tôi biết chị từng là nữ sinh trường Đồng Khánh (Huế) - trường của các thiếu nữ tóc buông lơi, tà áo dài thướt tha màu tím nhớ nhung chung thủy mà người ta thường dành cho Huế: màu tím Huế. Những năm học ở Huế chị đã làm thơ, bạn bè cùng nội trú trong trường gọi là “nữ thi sĩ”. Cẩm Lai có đôi mắt đẹp. Nhìn những tấm ảnh thời nữ sinh thấy chị cũng “vang bóng một thời”. Khi đang học chị chưa nghe nói đến cách mạng. Học xong trở về gia đình do có cậu em tham gia Việt Minh đã cho chị xem sách báo, kể cho nghe về chị Nguyễn Thị Hường - một tấm gương hy sinh không khuất phục thực dân khi bị bắt (1930), dần dần chị được gặp gỡ những người cách mạng và tham gia công tác cách mạng từ tháng 4-1945. Bài thơ cách mạng đầu tiên chị viết về chị Nguyễn Thị Hường:

… Ngọn cờ chị cắm đỉnh non

Đã nhen ngọn lửa gọi hồn núi sông

Gọi hồn Xô- Viết trẻ trung

Ánh lên mồ chị sắc hồng cờ bay…

Thời kỳ này Cẩm Lai làm được nhiều thơ về phong trào phụ nữ những ngày đầu cách mạng in được tập Dòng máu trẻ (1947). Chị là một trong những người thành lập Chi hội Văn nghệ đầu tiên của thị xã Hà Tĩnh (1946) cùng các ông Phan Đăng Tài, Phan Trọng Bình và chị Nguyệt Tú; trong Ban thành lập Hội sáng tác văn nghệ Liên khu IV cùng Minh Huệ, Xuân Hoàng (1958). Năm 1960 chị chuyển ra công tác tại Nhà xuất bản Phụ nữ. Năm 1962 chị in chung với Xuân Quỳnh tập Tơ tằm, chồi biếc (Cẩm Lai là Tơ tằm, Xuân Quỳnh là Chồi biếc). Bài Tơ tằm của chị được nhạc sĩ Lê Lôi phổ nhạc nghe tha thiết, đằm thắm…

… Một nong tằm là năm nong kén

Một nong kén là chín nén tơ

Công em năm nắng mười mưa…

Cẩm Lai không ngờ đến năm 1988 chị đã phải vĩnh biệt Xuân Quỳnh, cô bạn thơ xinh đẹp trẻ trung ra đi vì tai nạn bất ngờ:

… Đâu rồi “chồi biếc” lên trời

“Tơ tằm” bỗng rối bời bời tiếc thương…

Tiếp xúc với Cẩm Lai mọi người đều thấy gần gũi tin cậy, bởi chị tuy vẫn giữ thói quen của nữ sinh Đồng Khánh là lúc nào ăn mặc cũng tươm tất lịch sự, hay trang điểm tí chút, kỹ tính trong việc chọn màu áo nhưng lại sống giản dị, chan hòa và dễ thích nghi trong mọi hoàn cảnh. Có thể nói chị là một người giỏi chịu đựng vì sinh ra trong một gia đình công chức sung túc, ông thân sinh ra chị là đốc học các trường huyện được phong hàm Thị độc học sĩ. Sau cách mạng ông là Chủ tịch Hội Liên Việt thị xã Hà Tĩnh, tích cực tham gia mọi công tác xã hội. Chỉ được ăn học từ nhỏ vậy mà đi theo cách mạng, gia đình trải qua bao sóng gió. Cha chị đã mất trong lúc bị giam cầm thời kỳ cải cách ruộng đất. Đời sống của mẹ và các em chị vô cùng thiếu thốn, khó khăn vì cảnh ly tán mỗi người một ngả vậy mà chị vẫn giữ được niềm tin, hy vọng. Niềm tin đó giúp chị sống vững vàng dù trong đời sống riêng có đủ bất hạnh cũng như hạnh phúc. Mối tình đầu thơ mộng của Cẩm Lai với nhà họa sĩ tài danh Trịnh Vân (học trò yêu của cha chị) quá ngắn ngủi, chỉ hơn một năm trời. Khi đứa con gái đầu lòng Mỹ Dung mới sáu tháng tuổi, chị đã muốn nói với chồng về lý tưởng cách mạng song thấy anh bận rộn chuẩn bị cho cuộc đi thực tế để sáng tác, chị lại ngập ngừng, có lúc còn thoáng trách thầm anh chỉ mơ những sắc màu mới lạ, say gió núi mây ngàn Tây Bắc. Lúc đầu chỉ có hai lá thư anh gửi về thăm hai mẹ con, sau đó không có tin tức gì nữa. Cẩm Lai bồn chồn trông đợi nhưng lần ra đi của anh không có ngày trở về… (mãi đến năm 1985, có hai người đồng chí của anh Trịnh Vân tìm đến cho biết anh ra đi làm nhiệm vụ đặc biệt nơi biên giới. Trên đường trở về anh bị bọn phản động xô xuống vực sâu… Họ không biết tên vợ của đồng chí mình, phải dò tìm mấy chục năm mới gặp được chị).

Nhờ được giác ngộ cách mạng và khi Cách mạng Tháng Tám thành công đã bảy, tám năm và anh Vân vẫn biệt vô âm tín, chị nén nỗi đau riêng để nuôi con và lao vào công tác đoàn thể phụ nữ, công tác văn hóa văn nghệ, dạy bình dân học vụ một ngày ba lớp… Rồi hạnh phúc đã mỉm cười với mẹ con chị: Anh Nguyễn Duy Hương, một thanh niên khỏe mạnh, tuấn tú đã thông cảm với hoàn cảnh của chị, thương yêu chị và tự nguyện là cha bé Mỹ Dung vốn thiệt thòi không biết mặt cha. Anh Duy Hương người Quảng Bình nhưng gia đình sang làm ăn sinh sống ở Thái Lan. Anh đi tình nguyện từ biệt gia đình đầy đủ, về nước tham gia kháng chiến chống Pháp góp phần xây dựng quê hương. Anh cùng làm việc ở Nhà xuất bản Phụ nữ, anh là chuyên viên bên Bộ Tài chính.

Cái gia đình nhỏ bé ấm áp tình thương yêu ấy dần dần đông đúc, trải qua nhiều khó khăn vẫn hòa thuận ấm êm. Những vất vả chắt chiu rồi cũng dần qua. Cẩm Lai được bù đắp bởi tình yêu chung thủy của chồng. Anh sống hết mình với vợ con. Mỗi lần Cẩm Lai chuẩn bị đi công tác xa, anh Hương lấy ba lô thu xếp cho vợ mọi thứ cần dùng, không quên các thuốc đề phòng. Khi chị về, sau những phút hàn huyên, anh mở ba lô ra giặt. Trước khi dắt xe đạp đi chợ (các con đi học chưa về) anh hỏi: “Lai thích ăn món gì nào?”. Chính vì có một người chồng tuyệt vời như vậy mà chị - một hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957) ngoài nhiệm vụ biên tập số đầu sách hàng năm của Nxb Phụ nữ - vẫn sáng tác đều tay. Nxb Phụ nữ là một bộ phận của Hội LHPN Việt Nam, một đoàn thể quần chúng, đòi hỏi cán bộ phải sát phong trào. Điều đó rất hợp với nguyện vọng của Cẩm Lai vì chị rất ham đi thực tế, có vốn sống để sáng tác. Kết quả của các chuyện đi Tây Bắc, Đông Bắc là những tập thơ Những đóa hoa ban, Đất lên hương, Tôi hát (thơ dịch), Mùa xanh (1972). Đi thực tế các tỉnh phía Nam có tập thơ Lời thơ dâng Bác, Hương kỷ niệm; Nghiêng về ký ức - là những kỷ niệm sâu sắc về tình yêu, cuộc sống; Mây hồng là tình cảm gia đình và quê hương thân yêu bên rặng núi Hồng Lĩnh. Chị không chỉ làm thơ mà còn viết hồi ký và tiểu thuyết.

Là người làm thơ, Cẩm Lai rất nhạy cảm và tinh tế, hiểu tâm lý chồng và chị đã thổ lộ lòng biết ơn anh qua những câu thơ:

… Dẫu có một người đi qua

Trong cuộc đời em

Thì điều đó đã thành dĩ vãng

… Nếu bất chợt một mùi hương tím ngát

thoáng quay về

Thì mùi hương cũng sẽ bay đi

Vì điều đó thuộc về dĩ vãng

(Đừng buồn anh nhé)

Chị đánh giá tình yêu của anh rất đúng - một người đàn ông rất đàn ông mà đôn hậu, bao dung:

… anh như chiếc cầu vồng lung linh

Xuất hiện giữa bầu trời

Ngăn cản cơn mưa nguồn chớp bể

Với tình yêu mạnh mẽ

Quá khứ lùi xa

Dĩ vãng phủ sương mờ

… Xòe đôi bàn tay

Em chỉ thấy cô đơn, trống trải

Bỗng anh từ đâu lại

Và đôi tay em ấm mãi…

Cẩm Lai viết nhiều thơ về anh Duy Hương:

Sống với anh quá nửa cuộc đời

Đề thơ đó chưa một lần em ghi lại

Đấy là hai câu mở đầu Bài thơ chưa viết, nhưng ở đoạn cuối chị đã viết, đã khẳng định đề thơ ấy rất đẹp, mãi mãi đẹp:

Ra thế đó, bài thơ em chưa viết

Đời đã ghi hai mươi sáu năm trời

Và giục giã tay em viết tiếp

Chương đẹp này để nối tiếp

                                    Thêm chương…

Điều không may mắn của Cẩm Lai là sức khỏe kém, chị bị bệnh tiểu tháo đường, suy tim, cao huyết áp. Ngồi trên gường bệnh Cẩm Lai thường nhớ đến những vùng đã qua, nhất là khi thấy các bạn nhà văn nữ đi thực tế:

Thương đôi chân nhỏ đi ngàn dặm

Hết cực bắc rồi đến cực nam

Nay ngồi bó gối trên gường bệnh

Chân lại đau thêm nỗi nhớ đường!

Vậy mà lúc nào nhúc nhắc được chị vẫn cùng bạn bè về thăm quê hương Hà Tĩnh, thăm trường Đồng Khánh thưở xưa, nhớ lại bao kỷ niệm thời nữ sinh mộng mơ tươi trẻ. Sau mỗi chuyến đi, tâm hồn thơ Cẩm Lai lại dạt dào thi tứ. Chị tâm sự: “Trung ạ, bây giờ mình “sống gấp” đấy, dù lực bất tòng tâm”. Vừa nói chị vừa cười. Tôi hiểu không phải chị muốn hưởng thụ gấp gáp mà muốn làm việc hối hả, viết hối hả những điều ấp ủ bấy lâu nay, mà lúc sung sức thì công việc thôi thúc, vốn tính cần cù và tinh thần trách nhiệm chị đã “gác” những vấn đề riêng của mình lại.

Đã quá tuổi “xưa nay hiếm”, bệnh tiểu tháo đường bị biến chứng, và dù rất đau chân, chị vẫn in được nhiều tập: Để ta khuyên gió (thơ); Muôn vẻ tình yêu (Thơ); Thời con gái (tuyểu thuyết) - chính là tập tự truyện của chị; Tình bạn, tình thơ (viết về tình bạn của chị với các nhà thơ Vân Đài, Hằng Phương, Ngân Giang, Mai Đình, Anh Thơ… và các nhà thơ trẻ lớp sau; tiểu thuyết Qua những dòng sông cũng là truyện cuộc đời của anh Nguyễn Duy Hương và gần đây nhất là tập truyện Bâng khuâng tà áo tím. Thế mới biết sự say mê sáng tác và lòng yêu thơ của chị đã vượt qua cả bệnh tật.

Khi anh Hương ra đi - không ngờ là người khỏe mạnh, nhanh nhẹn như thế lại ra đi sớm! Tập Lệ đắng là những vần thơ chị khóc anh:

Em muốn như ai nuốt lệ vào trong

Để tỏ ra mình cứng rắn

Nhưng nước mắt cứ tràn đầy ướt đẫm…

Với họa sĩ ra đi không về, Cẩm Lai đau buồn viết:

… Gió heo may thổi về

Em rùng mình ớn lạnh

Ở chân trời Việt Bắc

Có một người nằm mãi dưới

thung sâu…

Thơ của Cẩm Lai là sự rung cảm nỗi niềm, là tình yêu sâu lắng thiết tha. Thơ của chị gắn bó giữa riêng chung và lý tưởng, thể hiện trên bình diện rộng của cuộc sống, chiến đấu của đất nước và con người. Nó mộc mạc, chân thành xúc động lòng người đọc, mạch văn thơ ấy xuyên suốt 12 tập thơ và những tập văn xuôi…

Bây giờ chị nằm trên giường bệnh. Tôi đến thăm, nét mừng rỡ hiện trên khuôn mặt, chị nhếch cười: “Trung!”. Mãi chị mới nói được: “Thơ đã in xong rồi”. Thanh Hằng - cháu nội của chị đưa tôi tập thơ dày dặn gần 500 trang, tập thơ được sự giúp đỡ của Hội Nhà văn Việt Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Tôi thật sự cảm động khi nhìn thấy chữ ký của chị thay lời đề tặng. Cháu Chương con trai chị đã cầm tay cho mẹ ký, cháu Thanh Hằng đề ngày 19/5/2006.

Với tuổi 84, nhà thơ Cẩm Lai- người của một thời áo tím - trái tim yếu ớt vẫn nặng tình với thơ. Tôi nắm chặt bàn tay chị.

 

(Văn nghệ)

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác