Nguyễn Trung Đức dịch giả, nhà nghiên cứu văn học Mỹ Latin


(Toquoc)- Nền văn học Mỹ Latin thực sự đến với độc giả Việt Nam chỉ bắt đầu từ sự xuất hiện cuốn Sự tráo trở của phương pháp của Carpentier (nguyên bản là Luận về phương pháp) do Nguyễn Trung Đức dịch năm 1981. Từ năm 1981 tới năm 2000 - năm Nguyễn Trung Đức thực hiện bản dịch cuối cùng Mùa thu của vị trưởng lão (2000) của Marquez là thời kì hoàng kim của văn học Mỹ Latin ở Việt Nam. Thời kỳ này gắn chặt chẽ với hoạt động dịch thuật và nghiên cứu của ông.

Từ năm 2000 tới nay Văn học Mỹ Latinh vẫn tiếp tục được giới thiệu ở Việt Nam với một số gương mặt mới như Lê Xuân Quỳnh, song chủ yếu các tác phẩm văn học được dịch từ tiếng Anh, Pháp, Nga đăng trên tạp chí Văn học nước ngoài. Các nhà xuất bản chủ yếu tái bản lại những tiểu thuyết và những tập truyện ngắn được dịch từ những năm 1980-1990.



 
Nguyễn Trung Đức dịch giả, nhà nghiên cứu văn học Mỹ Latin - ảnh 1

Nguyễn Trung Đức - dịch giả

Sau khi tu nghiệp ở Cu Ba về nước, Nguyễn Trung Đức từng lăn lộn trên những vùng chiến sự ác liệt ở khu 4 trong những năm chiến tranh chống Mỹ với tư cách phóng viên thường trú của Việt Nam Thông tấn xã. Là nhà báo thâm niên, song tình yêu văn học Mỹ Latin dường như không lúc nào để ông yên. Để thực hiện ước mơ của mình, năm 1974 Nguyễn Trung Đức xin vào Viện Văn học để theo nghiệp văn chương. Ông được phân làm việc tại ban Văn học thế giới, khi đó là một trong những ban mạnh, trụ cột của Viện.

Tám năm sau khi về Viện, năm 1981 Nguyễn Trung Đức hoàn thành bản dịch Sự tráo trở của phương pháp, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Carpentier. Cuốn tiểu thuyết đã mang tới một “làn gió mới” cho văn học Việt Nam những năm đầu của thập niên 1980, hé mở cho độc giả Việt Nam vốn quen với những tác phẩm “đơn tuyến”, “đơn tính” một chân trời văn chương mới, lạ lẫm, khó hiểu, song đầy sức hấp dẫn.

Cùng với các dịch giả văn học Mỹ Latin khác như Nguyễn Mạnh Tứ, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng, năm 1984 ông cho ra tập truyện Mỹ Latin nhan đề Ngài đại tá chờ thư. Hai năm sau, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng thế giới Trăm năm cô đơn của Gabriel Garcia Marquez được nhóm dịch giả nêu trên chuyển ngữ sang tiếng Việt. Với Trăm năm cô đơn (tác phẩm được tái bản tới bốn lần) Nguyễn Trung Đức thực sự trở thành dịch giả văn học Mỹ Latin có tên tuổi. Các nhà văn, nhà thơ có khuynh hướng cách tân ở Việt Nam trở thành bạn bè, chiến hữu của ông. Nhà ông trở thành “câu lạc bộ văn chương” lúc đó. Có thể nói, đó là một ví dụ sinh động cho sự kết nối lí tưởng giữa sáng tác, dịch thuật và nghiên cứu. Nếu đọc kĩ sáng tác của một số nhà văn, nhà thơ Việt Nam thời kì ấy sẽ thấy xuất hiện một số đường nét cách tân theo tinh thần hiện đại chủ nghĩa kiểu Mỹ Latin (bắt đầu có yếu tố huyền thoại, lối trần thuật đa tầng, kết cấu truyện trở nên phức tạp…). Văn học hiện đại Mỹ Latin thông qua những tác phẩm nổi tiếng mà dịch giả Trung Đức cùng bạn bè của ông kì công chuyển tải sang tiếng Việt đã phát huy tác dụng.

Hàng loạt những tác phẩm nổi tiếng của văn học Mĩ Latin tiếp tục được Nguyễn Trung Đức dịch sang tiếng Việt. Những tác phẩm này sống đời sống thứ hai ở một miền đất xa lạ và ngày càng được độc giả đón tiếp nồng nhiệt. Trong hơn chục cuốn tiểu thuyết được dịch từ 1984 tới cuối những năm 1990 (gần như mỗi năm Trung Đức cho ra một cuốn!), phải kể tới Tình yêu thời thổ tả (1995) cũng của Gabriel Garcia Marquez đã đem lại cho dịch giả Việt Nam không chỉ vinh quang, mà còn không ít hệ luỵ.

Tình yêu thời thổ tả của Marquez được trao giải Nobel mà Nguyễn Trung Đức dịch rất công phu, tâm huyết, hoàn thành vào năm 1986, được in lần đầu năm 1987, chưa kịp phát hành thì bị xử lí theo kiểu "cát bụi trở về với cát bụi", tức bị nghiền toàn bộ ra bột giấy. Thời gian ấy dường như ông bị đày ải vào "Trăm năm cô đơn".

Chín năm sau, năm 1995 Tình yêu thời thổ tả mới được in lại và ra mắt độc giả. Ai cũng biết nỗi thấp thỏm, lo lắng của ông cho số phận đứa con tinh thần của mình khi đó. Ngay sau đó một năm, 1996 bản dịch tác phẩm này của ông được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.

Trung Đức hay ví công việc dịch thuật của mình như hành động “bắt chước” của con khỉ. Cách nói hình tượng này, một mặt, thể hiện sự khiêm tốn của dịch giả, mặt khác, còn thể hiện quan niệm dịch của ông. Theo Trung Đức, chuyển tải trung thành nguyên tác là chuyện đương nhiên, là nguyên tắc đầu tiên của việc dịch. Đã qua rồi thuở ban đầu, khi nền văn học hiện đại mới hình thành buộc phải có nhiều hình thức “học tập” văn học nước ngoài, việc phóng tác, mượn cốt truyện, nhân vật của các tác phẩm nước ngoài là việc làm “được phép”. Như đã nói, để thực hiện nguyên tắc “vàng” này dịch giả đã khổ công như thế nào. Tuy nhiên, như một nghịch lí, ông cũng lại hiểu được rằng “phiên dịch là một hành động làm thay đổi cái mà chính nó chuyển tải… Các nền văn hoá thẩy đều có tính địa phương và đều là ngôn ngữ độc thoại; bản dịch đã đưa vào một nhân tố lạ, nhân tố khác hẳn trong hình thức dứt khoát của mình: một ngôn ngữ khác hẳn. Và một ngôn ngữ khác có nghĩa là một hình thức khác của tư duy và cảm thụ, một cái nhìn khác về thế giới” (1). Như vậy, một bản dịch lí tưởng cần phải kết hợp những cái dường như không thể kết hợp: trung thành với nguyên tác (cái người ta gọi là “tín”). Sự trung thành này không dừng lại ở cấp độ ngôn từ, nó còn bao hàm cả sự trung thành đối với tư tưởng, phong cách, bút pháp, giọng điệu… của tác giả. Bên cạnh đó, bản dịch lại là (đương nhiên là) một tác phẩm thứ hai (không phải sự sao chép máy móc), được “viết” bằng ngôn ngữ khác, ngôn ngữ thứ hai, một ngôn ngữ đảm bảo sao cho vẫn truyền được văn phong nguyên tác, đồng thời lại “có giọng” riêng của dịch giả - nhà văn, cái chất giọng giúp độc giả xâm nhập vào một thế giới văn chương mới lạ đối với họ. Từ bản dịch đầu tiên Sự tráo trở của phương pháp của Carpentier (1981) tới Mùa thu của vị trưởng lão (2000) của Marquez, cho thấy sự định hướng bền bỉ của dịch giả Trung Đức hướng tới “cách thức”, nguyên tắc dịch nêu trên.

19 năm miệt mài trong lĩnh vực dịch thuật Nguyễn Trung Đức có khoảng 35 đầu sách dịch văn học Mỹ Latin, trong đó có 14 cuốn tiểu thuyết. Riêng tác phẩm của Marquez ông dịch 7 tiểu thuyết và khoảng trên dưới 50 truyện ngắn. Những con số nêu trên cùng với những giải thưởng sách dịch và sự đón nhận của độc giả trong suốt ba thập niên những tác phẩm văn học Mĩ Latin đã khẳng định chắc chắn vai trò, vị thế của Nguyễn Trung Đức - dịch giả - nhà văn.

 

Nguyễn Trung Đức - nhà nghiên cứu

Ở lĩnh vực dịch văn học nước ngoài, có thể nói Nguyễn Trung Đức là mẫu mực của mô hình “ba trong một” lí tưởng: dịch giả đồng thời là nhà văn và nhà nghiên cứu văn học.

Gần như sau mỗi tiểu thuyết hay tập truyện ngắn Mỹ Latin nào được dịch và xuất bản Nguyễn Trung Đức cũng đều có những bài giới thiệu, đôi khi là những bài nghiên cứu dài và công phu. Những bài viết nêu trên cho thấy Nguyễn Trung Đức, với tư cách một người nghiên cứu văn học nước ngoài, đã đề ra cho mình nhiệm vụ rất rõ ràng: 1/ Giới thiệu văn học nước ngoài thông qua việc đọc nguyên tác và dịch sang tiếng Việt. 2/ Trên cơ sở phân tích những tác phẩm nổi tiếng khái quát hệ thống thi pháp đặc trưng của văn xuôi Mỹ Latin. Điều này giúp ông xâm nhập thẳng vào những vấn đề căn cốt của nền văn học mình nghiên cứu: ông đã có công giới thiệu luận thuyết “cái thực tại kì diệu Mỹ Latin” (Lo real mara villoso Latinoamericano) của Carpentier và “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin” (Realismo magico Latinoamericano) - những đóng góp to lớn của văn học Mỹ Latin cho lí luận và thực tiễn sáng tác văn học thế giới thế kỉ XX.

Khái niệm “cái thực tại kì diệu Mỹ Latin” xuất hiện trong Lời nói đầu cuốn Vương quốc trần gian của Carpentier xuất bản tại Mehico năm 1949. Những tác phẩm tiếp theo của nhà văn này lần lượt lí giải bằng nghệ thuật dưới những góc độ khác nhau cái thực tại Mỹ Latin đó, từ Những dấu ấn đã mất (1952), Thế kỉ ánh sáng (1963) tới Luận về phương pháp (1974). Trong bài viết Luận thuyết “cái thực tại kì diệu Mỹ La-Tinh” của Các-Pênh-Ti-Ê, Nguyễn Trung Đức nêu bật bản chất khái niệm “thực tại kì diệu”, phân biệt nó với khái niệm “thực tại kì diệu” của văn học châu Âu, Nga… trong đó những yếu tố huyền ảo, huyền thoại thường đóng vai trò thủ pháp nghệ thuật, hoặc cách thức truyền thông điệp của nhà văn. Theo nhà nghiên cứu, cái thực tại “kì diệu” xuất phát ở chỗ Mỹ Latin là một châu lục tồn tại sự chung sống của nhiều chủng tộc: da trắng, da đen, da đỏ và hiện số người lai ngày một tăng. Đây là một châu lục điển hình của sự phát triển không đồng đều giữa các nước nói chung một ngôn ngữ - tiếng Tây Ban Nha, do vậy sự chung đụng của nhiều trình độ văn hoá khác nhau là điều dễ hiểu. Cho nên ở đấy huyền thoại đang tồn tại và là một bộ phận của hiện thực đời sống xã hội. Đây cũng chính là cơ sở để Carpentier sử dụng những yếu tố huyền thoại vào trong tác phẩm của mình. Những yếu tố huyền thoại có mặt trên tất cả các khâu của tổ chức truyện: xây dựng nhân vật, tình tiết, cốt truyện, ngôn ngữ, giọng điệu…

Tuy nhiên, nhà nghiên cứu chỉ ra rằng vấn đề không dừng lại ở cái kết luận cho rằng thực chất cái gọi là hiện thực kì diệu Mỹ Latin là chủ nghĩa hiện thực mang màu sắc kỳ lạ của Mỹ Latin. Carpentier không chỉ bằng lòng với việc phản ánh những hiện tượng địa phương có màu sắc kì lạ, mà luôn đi sâu vào bản chất sự vật, nghiên cứu cuộc sống Mỹ Latin trong mối tương đồng quốc tế, từ đó rút ra những vấn đề chung có tính chất toàn nhân loại. Carpentier, theo Trung Đức, lớn ở chỗ đó.

Luận thuyết về “cái thực tại Mỹ Latin” của Carpentier là cơ sở để công nhà nghiên cứu có được những công trình hiệu quả về văn xuôi Mỹ Latin. Ngược lại, khi nghiên cứu sâu thế giới tiểu thuyết Mỹ Latin, Nguyễn Trung Đức đã bổ sung và chứng minh tính đúng đắn xác thực của luận thuyết này.

Trong Lời nói đầu cho bản dịch Trăm năm cô đơn, vận dụng luận thuyết này, nhà nghiên cứu nói tới các “cấp độ” trong quan niệm về “cái có thực” trong tiểu thuyết Mỹ Latin, từ đó chứng minh nền tảng của luận thuyết “cái thực tại huyền diệu Mỹ Latin” chính là những cái có thật, cái từng diễn ra trong lịch sử và đang diễn ra thời hiện tại. Những cái có thật này thật tới mức “siêu thực”, tới mức những huyền thoại được xem là “có lí hơn”, dễ chấp nhận hơn. Điều này giải thích vì sao sau khi những bản dịch tiểu thuyết Mỹ Latin và những bài viết của Nguyễn Trung Đức về nền tiểu thuyết này ra đời nhiều nhà văn Việt Nam, những người đang “đi tìm nhân vật”, đi tìm “ thực tại”, lại nhiệt tình đón đọc đến như vậy.

Từ những bài viết về “cái thực tại kỳ diệu Mỹ Latin” trong tiểu thuyết Carpentier, Marquez và các nhà văn khác, Nguyễn Trung Đức đi sâu nghiên cứu “chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin”, một vấn đề làm tốn khá nhiều bút mực của giới nghiên cứu văn học thế giới nửa sau thế kỉ vừa qua. “Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin” (realismo masgico latinoamericano), một khái niệm được truyền bá rộng rãi trong giới phê bình Mỹ Latin và châu Âu những năm 1960-70. Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo được hiểu như một trào lưu trong văn học Mỹ Latin nửa sau thế kỉ XX; ở nghĩa rộng - khái niệm này chỉ hằng số nội tại của tư duy nghệ thuật Mỹ Latin và đặc tính chung của văn hoá châu lục này. Đây là một trong những dạng thức của mẫu hình văn hoá tự đồng nhất. Khái niệm chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin đòi hỏi làm rõ sự khác biệt về nguyên tắc với văn học huyền thoại và văn học viễn tưởng châu Âu. Những đặc điểm của nó thể hiện khá rõ trong những tác phẩm Vương quốc trần gian của Carpentier, tiểu thuyết Những người Maia của Asturiac (cả 2 tác phẩm đều được xuất bản vào năm 1949). Trong văn học hiện thực huyền ảo Mỹ Latin, yếu tố cá nhân khởi nguyên luôn mờ nhạt và ít được nhà văn quan tâm - các nhân vật đóng vai trò đại diện cho ý thức huyền thoại tập thể - đối tượng miêu tả chủ yếu. Trong khi miêu tả kiểu ý thức tập thể này nhà văn thường “thay thế” cái nhìn của mình, cái nhìn của người văn minh bằng cái nhìn của người sơ khai và cố gắng soi rọi thực tại qua lăng kính của ý thức huyền thoại và kết quả là cái thực tại được miêu tả bị méo mó quái dị đủ kiểu. Tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin được xây dựng trên sự tương hỗ của các góc nhìn khác nhau; ý thức “văn minh” hiểu về ý thức huyền thoại và trong quá trình đó tự nhận thức lại bản thân khi so sánh với nó.

Nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin chính là khát vọng của nhà văn làm nổi bật và khẳng định bản sắc thực tại và văn hoá Mỹ Latin được nhận dạng bởi ý thức huyền thoại của người da đỏ hay da đen châu Phi. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo có ảnh hưởng rất lớn đối với văn học châu Âu và Bắc Mỹ, cũng như sự phát triển của các nền văn học thuộc “thế giới thứ ba”.

Trong bài Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo của G.G. Mác-Kết qua “Chuyện buồn không thể tin được của Ê-Rênh-Đi-Ra ngây thơ và người bà bất lương” (Tạp chí Văn học số 2 năm 1988), nhà nghiên cứu cho rằng phạm vi phản ánh thực tại của tác phẩm được mở rộng, không chỉ là những điều “mắt thấy tai nghe”, mà còn là đời sống tinh thần, đời sống ý thức đang còn ở trình độ trực giác, tiền lô-gic bao gồm truyền thuyết, huyền thoại, niềm tin tôn giáo, cả những hiện tượng kì lạ của thần giao cách cảm… những yếu tố trên không nảy sinh từ hư vô mà trái lại, chúng là lịch sử, là đời sống thường nhật của dân chúng(2). Phản ánh một cách chân thực cái “thực tại kì diệu” này là nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, với tư cách một trào lưu văn học và một phương pháp sáng tác. Như vậy, cái thực tại Mỹ Latin là một thực tại “đặc biệt”, “quái dị” bao gồm nhiều yếu tố đan xen, chính vì vậy việc phản ánh nó không thể dừng lại ở hệ thống thi pháp của chủ nghĩa hiện thực cổ điển, mà phải tạo dựng một hệ thống nguyên tắc sáng tác và thi pháp mới, đó là sự “khai thác, phát huy những yếu tố tích cực trong nghệ thuật kể chuyện dân gian kết hợp với sự vận dụng tài tình bút pháp mới của tiểu thuyết thế giới hiện đại”(3).

Trong quá trình khám phá chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin, Nguyễn Trung Đức đặt cho mình nhiệm vụ tìm hiểu thi pháp của nó nhằm khám phá đặc trưng và giá trị thẩm mĩ của nền văn học này, đặc biệt là mảng tiểu thuyết “mới” của nó - một đóng góp đáng kể cho văn học thế giới thế kỉ XX. Như đã biết, thi pháp và các nguyên tắc nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo hình thành dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa tiên phong châu Âu. Sự quan tâm tới tư duy nguyên thuỷ, tới cái kì ảo, tới nghệ thuật nguyên thuỷ bao trùm lên khắp các nhóm phái nghệ thuật ở những năm 20 thế kỉ trước đã kích thích sự quan tâm của các nhà văn Mỹ Latin đối với những người da đỏ và người châu Phi. Trong lòng văn hoá châu Âu thiết lập một quan niệm về sự khác cơ bản giữa tư duy tiền duy lý với tư duy của xã hội văn minh. Các nhà văn Mỹ Latin vay mượn ở các nhà tiên phong chủ nghĩa, trong đó chủ yếu là các nhà siêu thực, một số những nguyên tắc miêu tả thực tại theo kiểu huyền thoại. Bên cạnh đó “con người dã man” châu Âu trừu tượng tìm thấy trong tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin tính rõ ràng, cụ thể về mặt nhân chủng; quan niệm về các kiểu tư duy khác nhau nằm trên một mặt phẳng của sự đối lập về văn hoá, văn minh giữa Mỹ Latin và châu Âu; giấc mơ siêu thực được thay bằng huyền thoại của đời sống hàng ngày. Thực hiện điều này các nhà văn Mỹ Latin không chỉ dựa trên huyền thoại dân da đỏ hay da đen, mà còn dựa trên truyền thống biên niên sử của Mỹ thế kỷ XVI-XVII trong đó ngập tràn các yếu tố kì lạ.

Đi sâu vào thi pháp của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin, Nguyễn Trung Đức, vào năm 1993, trong bài viết Tự sự nhiều người kể trong “Kí sự về một cái chết được báo trước” của G.G. Macket, trên cơ sở phân tích tác phẩm, lần đầu tiên đề cập tới một trong những vấn đề cơ bản của tự sự học hiện đại: mối quan hệ hữu cơ giữa điểm nhìn (mà ông gọi là “quan điểm”) tự sự và cấu trúc tiểu thuyết và thời - không gian trong đó. Ông đưa ra sơ đồ về mối quan hệ này giúp người đọc nắm được kết cấu phức tạp của tiểu thuyết mới Mỹ Latin, trong đó tự sự nhiều ngôi đan xen mà chủ yếu là tự sự ngôi thứ nhất - tác giả người kể chuyện ước lệ, “người phối khí các giọng khác nhau” của những người kể chuyện “không đủ thẩm quyền” khác trong tác phẩm.

Từ những phân tích lối tổ chức truyện nêu trên nhà nghiên cứu không chỉ chỉ ra tài năng bậc thầy của Marquez trong nghệ thuật kể chuyện, mà còn đưa ra thông điệp tư tưởng của nhà văn: chân lí, sự thật, bản chất sự thật là những cái mà trí tuệ cá nhân khó nắm bắt được. Ở đây nhà nghiên cứu đã chạm đến lí thuyết nổi tiếng của Bakhtin về tính phức điệu (polyfonia) của tiểu thuyết, trong đó học giả nhấn mạnh: chân lí là điểm giao nhau giữa các giọng. Từ Nga truyền qua châu Âu được Mỹ Latin hoá, lí thuyết của Bakhtin được các nhà văn xuất sắc khu vực này “chiếm lĩnh theo cách của mình” nhằm soi rọi cái thực tại siêu thực, huyền thoại của mảnh đất đầy “bạo lực của sự chậm phát triển và sự phát triển của bạo lực”.

Sau khi Trăm năm cô đơn của Maquez được dịch ra tiếng Việt và được đông đảo bạn đọc nhiệt liệt tiếp nhận, năm 1995 Nguyễn Trung Đức nghiên cứu hiệu quả nghệ thuật của nó, trong đó, để làm rõ thêm nghệ thuật tự sự và kết cấu đặc biệt của cuốn tiểu thuyết này, ông đã đề cập tới phạm trù “không - thời gian”, cũng là một trong những phạm trù nghệ thuật do Bakhtin đưa ra (được Phạm Vĩnh Cư và một số các nhà nghiên cứu khác đưa vào Việt Nam từ năm 1992 qua các bản dịch trước tác của Bakhtin). Có thể nói, Nguyễn Trung Đức là một trong những người đầu tiên áp dụng lí thuyết về thời - không gian của học giả Nga để phân tích một tác phẩm cụ thể của văn học Mỹ Latin. Điều này một lần nữa cho thấy sức sống của một lí thuyết đúng đắn, đó chính là độ mở của nó - cho phép nó không bị chết cứng, “dẫm chân tại chỗ”, mà được nuôi dưỡng, phát triển bởi sự sáng tạo của văn chương mọi châu lục.

Điểm qua những thành tựu chủ yếu trong sự nghiệp của Nguyễn Trung Đức với tư cách dịch giả và nhà nghiên cứu, nguyên trưởng ban Văn học nước ngoài của Viện Văn học. Những thành tựu này quan trọng nhằm ở chỗ chúng đã góp phần tạo bước ngoặt cho những chuyển biến về tư duy lí luận và sự tìm tòi cách tân của văn học Việt Nam những thập niên cuối thế kỉ XX.

Những ai từng gần gũi Nguyễn Trung Đức đều biết ông có nhiều dự định lớn trong việc quảng bá văn học Mỹ Latin ở Việt Nam. Tuy nhiên cái chết sớm đã làm đứt đoạn những ước mơ và dự định lớn lao đó. Trong mỗi người yêu mến văn học Mỹ Latin luôn đau đáu một câu hỏi: liệu đến bao giờ mới có được những người nhiệt tâm, tài năng để tiếp nối những việc làm dang dở của ông? 

Đào Tuấn Ảnh

---------------------------

(1) Ostavio Paz.  Thơ văn và tiểu luận. Nguyễn Trung Đức dịch từ tiếng Tây Ban Nha. Nxb Đà Nẵng, 1998, tr.152-153.
(2) Tạp chí Văn học số 2 năm 1988, tr. 102
(3) Tạp chí Văn học số 2 năm 1988, tr. 108
 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác