Nguyễn Trọng Tạo - "Vệ sĩ" của thơ

Ngô Minh

Nguyễn Trọng Tạo làm Thơ, sống chết với Thơ, vì Thơ... thì ai cũng biết. Anh từng dụng tâm suốt 8 năm liền vận động Hội Nhà văn ra báo THƠ, và cuối cùng thì người ta mời anh làm Trưởng ban Biên tập cho tờ báo đó, và anh đã làm hết sức mình cho sự mến mộ của độc giả.

Anh cũng là người đề xướng Ngày Hội Thơ, và để hướng tới đích đến của Thơ, anh đã vẽ lá Cờ Thơ cho ngày lễ hội đó với con chim Lạc tượng trưng cho hồn Việt mang chữ THƠ bay lên. Nhưng người ta cũng biết anh luôn cổ vũ cho “Cái Mới”, và trong chuyện này, anh trở thành một "vệ sĩ" của Thơ...

Nhắc đến Nguyễn Trọng Tạo, bạn bè thường nhắc đến Người Ham Chơi (cách gọi của Hoàng Phủ Ngọc Tường). Anh thường ngồi với bạn bè bên mâm rượu thâu đêm suốt sáng, ca ngợi hết lòng bài thơ này, “mắng” mỏ bài thơ nọ; để rồi khi thấm rượu, mọi người lại đọc to những bài thơ hay như Tản mạn thời tôi sống, Đồng dao cho người lớn, Tin thì tin không tin thì thôi... hay cùng đồng ca bài hát nổi tiếng Làng quan họ quê tôi của anh. Rồi sáng hôm sau, đến nhà nhờ anh vẽ cho cái bìa sách, hai màu đen trắng mà hiện đại “như bìa sách nước ngoài”! Ở Huế hầu như ai cũng đọc thơ anh trong các cuộc vui:

Sông Hương hóa rượu ta đến uống

Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say

Hay:

Bạn bè ở Huế thương nhau thiệt

Một đứa vợ la... chục đứa kinh !

Riêng tôi hơn mười năm sống cùng với Nguyễn Trọng Tạo, Hoàng Phủ Ngọc Tường ở Chi hội Văn nghệ Bến Ngự (chúng tôi gọi đùa như vậy vì ở Huế, nhà ba người gần nhau, gần chợ Bến Ngự, lại hay ngồi cùng nhau bên chén rượu ngon nhấm với nói cười), tôi nhận ra Nguyễn Trọng Tạo ngoài tài thơ, nhạc, vẽ bìa sách, anh còn có biệt tài về thẩm định thơ. Anh đọc thơ rất tinh diệu, loáng cái đã lọc ra ngay chữ hay, câu thơ hay, bài thơ hay, mà ai cũng phải công nhận. Khả năng mẫn cảm thơ ấy cộng với bản tính cương trực, trọng cái mới, Nguyễn Trọng Tạo trong nhiều năm qua đã trở thành người “vệ sĩ” trung thực của cái mới trong thơ. Mới đây, sau Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VI, nghe thông báo anh được Ban Chấp hành mời vào Hội đồng thơ của Hội, một bạn thơ của tôi ở Huế đã thốt lên: Khen cho con mắt tinh đời !

Mùa thu năm 1992, Nguyễn Khắc Thạch, lúc đó là biên tập thơ của tạp chí Sông Hương, chuyển cho tôi tập bản thảo thơ mỏng (do chính anh đánh máy lại để đọc cho rõ) của chàng sinh viên hai mươi tuổi Khoa ngữ văn Đại Học tổng hợp Huế  Văn Cầm Hải, với lời nhận xét “Thơ thằng này lạ lắm”. Tôi đọc, thú thật có bài phải đọc vài ba lần, rồi nghĩ ngợi thêm mới hiểu. Tôi bàn với anh Thạch phải chuyển cho Nguyễn Trọng Tạo đọc mới đánh giá chính xác. Thế là tập thơ lọt qua “mắt xanh” của “vệ sĩ” Nguyễn Trọng Tạo. Anh không chỉ “đọc cho biết”, mà còn hứng thú viết lời tựa, vẽ bìa và giới thiệu cho Nhà xuất bản Thuận Hóa. Nhà xuất bản Thuận Hóa trả lại bản thảo vì “thơ khó hiểu”! Để tập thơ “mới lạ” đến được với bạn đọc, Nguyễn Trọng Tạo lại giới thiệu và được Nhà xuất bản Trẻ chấp nhận. Thế mà mãi đến gần ba năm sau, tháng 4-1995, tập thơ “Người đi chăn sóng biển” của Văn Cầm Hải mới ra mắt độc giả, ghi một dấu ấn cho cái mới trong thơ ca thời đổi mới ở Huế! Lời “Tựa” của Nguyễn Trọng Tạo đã dẫn ra rất nhiều câu thơ rất mới, “khác lạ mà không xa lạ” của Văn Cầm Hải như: “Trên da bụng em nườm nượp tiếng khóc”, “Dù thời đại lưỡng tính/ Anh không ăn bóng một thời đã qua”, “Lá rụng rồi vẫn còn nhả máu”, “Đời chị/ như viện bảo tàng/ có nhiều mặt nạ đàn ông”.v.v. Và anh đã sảng khoái  luận về cái mới trong thơ Văn Cầm Hải: ”Một lối tư duy khác, một cách lập ngôn khác. Người làm thơ trẻ tuổi này ngay từ đầu, muốn cất lên một tiếng thơ không giống những gì đã có”; chàng phóng bút trên những cảm xúc nhảy cóc bất ngờ tưởng như khó nắm bắt , nhưng những con chữ đa nghĩa đã làm chủ được những ý tưởng mới lạ của chàng. Thơ chàng vì thế mà làm ta nghĩ đến những bức tranh trừu tượng vân cẩu thường được dựng bên trời chiều, biến hóa khôn lường...”. Sau này anh còn viết nhiều bài tiểu luận, tranh luận hay nói trong các cuộc đàm đạo văn chương anh đều cho rằng Văn Cầm Hải đã “tạo cho mình một hệ thống ngôn ngữ riêng, nối dính và vô minh... Tư duy thẳng vào thơ chứ không phải tư duy thơ gián tiếp như người khác...”. Rồi anh viết bài trân trọng giới thiệu cái mới cái lạ trong “trò nói thơ” của bé Hoàng Dạ Thi, “nó giống cái khối vuông ru-bich trên tay, mà mỗi người với khả năng của mình, sẽ có thể tìm thấy biết bao niềm hứng thú khác nhau”. Anh gọi nhà thơ trẻ Trương Nam Hương có “hồn thơ đẹp như nỗi buồn”. Anh ca ngợi vợ chồng hai nhà thơ trẻ Nguyễn Thanh Mừng - Trần Thị Huyền Trang (Quy Nhơn) “ở trong một nhà mà hai phong thái thơ khác nhau”; một Nguyễn Kim Huy (Đà Nẵng) “giàu cảm thương quê kiểng với một ngôn ngữ thị thành mới mẻ”. Rồi anh nhiệt thành viết bài, viết tựa giới thiệu một loạt các cây bút trẻ mới xuất hiện như Nguyễn Hữu Hồng Minh, Vi Thùy Linh… Anh khẳng định rằng “thơ trẻ đang làm cựa quậy khuôn thước độc tôn của thơ ca chính thống” và “mong thơ trẻ sẽ một lần toàn thắng”, hay “đọc những người trẻ tôi thường giật mình, khâm phục”, “Văn chương của họ có tốc độ kỳ lạ, choáng ngợp...”, “Đổi mới thơ phải trông cậy vào lớp trẻ...”.v.v... Anh phát hiện ra lớp nhà thơ trẻ trên dưới hai mươi tuổi “đang báo hiệu một dòng chảy mới của thơ hậu chiến, thơ - xã - hội - đời - thường, loại trừ lối tư duy thần tượng giáo điều cùng lối tụng ca mòn sáo”. Anh cho rằng, sự xuất hiện của loại thơ gọi là thơ tình dục là bình thường, “không nên nhìn nó với con mắt thẩm mỹ bó hẹp”. Tuy nhiên Nguyễn Trọng Tạo không phải là “vệ sĩ” của bất cứ cái lạ, cái mới nào. Anh không thích những người viết trẻ cứ ngoa ngôn (anh dẫn lời giáo sư Hoàng Ngọc Hiến gọi loại thơ này là “vừa múa vừa hoắng”), những nhà thơ- phức- rối  hay phạm thượng- cà chớn, nhưng anh không chống họ, vì dù sao họ cũng đang phát ra những tín hiệu đổi thay. Nguyễn Trọng Tạo chỉ phản ứng trước việc một số nhà thơ trẻ tôn “thơ siêu thực” lên thành mục tiêu sáng tạo tối thượng của mình, nhưng thơ họ lại là thứ thơ cũ, và thực ra thơ siêu thực cũng đã cũ mèm từ lâu rồi !

Nguyễn Trọng Tạo không chỉ bảo vệ cái mới trong thơ của lớp trẻ. Đối với các nhà thơ có tên tuổi, có những sáng tác mới lạ, thể nghiệm như tập thơ Bóng chữ của Lê Đạt, Ô mai của Đặng Đình Hưng, Người đi tìm mặt của Hoàng Hưng, Ba mươi sáu bài tình của Hoàng Hưng - Dương Tường .v.v. anh kêu gọi mọi người “không nên vội vã đối xử thô bạo với nó, mà trước hết cần có một cái nhìn cởi mở, cái nhìn tôn trọng”, không nên “đánh đòn hội chợ” theo kiểu “thể hiện lập trường” kiểu cũ!  Đối với Nguyễn Trọng Tạo, cái mới đã xuất hiện trong thơ Việt Nam ngay từ thời Thơ mới, đặc biệt là trong thơ kháng chiến. Tối mùng ba Tết Tân Tỵ, Nguyễn Trọng Tạo, Tiến sĩ văn chương Hồ Thế Hà và tôi ngồi uống rượu đàm đạo văn chương tại nhà tôi. Câu chuyện thế nào đó lại hướng đến chuyện Thơ mới. Tôi bảo: “Vòng “kim cô” của Thơ mới đến bây giờ vẫn chưa cởi được ra khỏi thơ Việt Nam”. Nguyễn Trọng Tạo phản đối: “Trừ các tác giả Thơ mới còn sống, họ vẫn sáng tác như Thơ mới, còn thơ Việt Nam đa phần đã sang kênh thơ khác, không bao giờ có trong Thơ mới. Ví dụ Thơ Điên của Hàn Mặc Tử ngay trong thời Thơ mới, nhưng đã khác Thơ mới, đã mới hơn Thơ mới: Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm / Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe! Thơ kháng chiến chống Pháp như thơ Trần Mai Ninh, Hồng Nguyên, Văn Cao, Hữu Loan... đã không còn bóng dáng của Thơ mới: Ôi cái gió Tuy Hòa / chuyên cần / và phóng túng... Đến thơ chống  Mỹ như thơ của Thanh Thảo, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, Lâm Thị Mỹ Dạ.v.v. thì hoàn toàn khác hẳn thơ mới! Đó là bước tiến lớn của thơ Việt Nam!”. Nguyễn Trọng Tạo vừa nói vừa đọc thơ dẫn. Thầy giáo tiến sĩ Hồ Thế Hà thì gật gù tán thưởng và đọc thêm nhiều bài thơ minh chứng khác. Dù khác ý kiến, nhưng tôi vẫn thú vị vì sự nhiệt thành đáng trân trọng của các anh bảo vệ sự đổi mới của thơ. Trong cuốn sách “Văn chương, cảm và luận” (NXB Văn hóa Thông tin, 1998), Nguyễn Trọng Tạo đã khẳng định quan điểm trên của mình: “...phải đợi đến sự xuất hiện của Phạm Tiến Duật, thơ chống Mỹ mới bộc lộc thật sự cái giọng điệu riêng của nó, cái giọng điệu riêng của lớp trẻ, với sự xuất hiện hàng loạt các tác giả trẻ sau đó.”.

Lớp tác giả trẻ sau này mà anh chú ý giới thiệu và “bảo vệ” không chỉ là người trẻ tuổi, mà cả những người già mới viết. Năm 1994, anh Nhất Lâm, cán bộ hưu ở Huế, rụt rè mang đến nhờ Nguyễn Trọng Tạo đọc hộ và “ nếu được” thì viết lời tựa cho tập bản thảo thơ đầu tay của mình. Liếc qua hơn ba chục bài thơ chép tay trong vở học trò của người cán bộ già có mái tóc bạch kim óng ả như người Pháp, Nguyễn Trọng Tạo thốt lên: “Hơi thơ anh đôi lúc khiến tôi nhớ Thâm Tâm hay Quang Dũng, ngang tàng mà nén thẳm”. Nhờ cú hích đó, anh Nhất Lâm đã mạnh dạn hành trình cùng văn chương gần mười năm qua, đã viết được sáu đầu sách, trong đó có hai tập thơ đã được xuất bản. Nhà thơ Hồ Phi Phục ở Nghệ An cũng là một tác giả lọt được vào ”mắt xanh” của “vệ sĩ” Nguyễn Trọng Tạo. Đọc mấy bài “thơ đầu tay” của Hồ Phi Phục trên báo thấy giọng điệu mới, không vần, ý tứ lạ, Nguyễn Trọng Tạo hình dung ra tác giả là “một người trẻ, có học và nhiều ngẫm ngợi thâm trầm”. Nhưng đến khi gặp tác giả Hồ Phi Phục, “tuổi lục tuần, mái tóc bạc trắng như bông”, lại là cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong nhiều năm của tỉnh Nghệ An, mà thơ “không giống thơ lãnh đạo vẫn thường làm”, thơ anh là  Sự vạm vỡ trần trụi của ngôn từ đẩy thơ đi chiếm lĩnh những khoảng trống mới lạ,… anh đã mở cho mình một lối riêng!”. Nguyễn Trọng Tạo càng vị nể và  “ủng hộ” hết lòng”. Chính vì điều đó mà tôi rất thú vị khi viết về Hồ- Phi- Phục- Thơ.

Sự “ủng hộ” cái mới của anh nhiệt thành đến độ làm cho có kẻ (được gọi nhà phê bình văn học Việt Nam hẳn hoi!) do thói quen “giáo lý dạy dỗ” đã viết trong sách của mình rằng: ”Hồ Phi Phục mới có một tập thơ vỏn vẹn 24 bài, mặc dù ông đã ngấp nghé tuổi về hưu. Vậy mà Nguyễn Trọng Tạo không bỏ sót một từ cao sang, sáng giá nào cho tác giả này... và cuối cùng đóng vai Đức Gíáo Hoàng phong Thánh cho người mình mến mộ: Hồ- Phi- Phục- Thơ”. Ô hay, thơ hay thì một câu cũng phải bái lạy, bái phục, cũng phải khen hết lời chứ, nếu không, cái hay, cái mới làm sao nẩy nở và phát triển được, hỡi “nhà phê bình “?!

Mới hay, tình nguyện làm “Vệ sĩ” của cái mới, cái đẹp trong thơ như Nguyễn Trọng Tạo thật chẳng dễ dàng chút nào! Nhưng nếu không có những “vệ sĩ” am tường, tài hoa và tận tụy như thế, liệu cái mới trong thơ còn có cơ may để nảy nở ? 

Huế, Mùng bảy Tết Tân Tỵ


Ngày thơ Việt Nam tại Nghệ An 2008


ngay Thơ
Nguyễn Trọng Tạo đọc thơ

ngay Thơ
Bích Ngọc - Tiến Lâm hát bài Nhớ Rú Cài (Hoàng Thành phổ thơ NTT)

ngay Thơ
Đoàn NT QK4 với ca khúc Thế giới không còn Trăng (Hoàng Thành phổ thơ NTT)

ngay Thơ
Nghệ An tôn vinh những nhạc sĩ, ca sĩ có công với thơ 


Hội thơ Khoa STLLPB - Trường đại học Văn hoá Hà Nội 2008


ngay Thơ
NTT đọc những bài thơ mới nhất

ngay Thơ
NTT với sinh viên K8

ngay Thơ
Góc thơ K9

ngay Thơ
Thư pháp Thơ

ngay Thơ
Quang cảnh Hội Thơ


Hội thơ Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội 2008


ngay Thơ
NTT tham gia sân Thơ Trẻ

ngay Thơ
Cờ Thơ do NTT thiết kế

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác