Nguyễn Trọng Khánh - Người hành trình trên cánh đồng thơ

(Toquoc)- Thơ Trọng Khánh không Tây, không Âu, không kim, không cổ, không tỉnh, không quê… Với giọng rỉ rả, lóng lánh duyên thầm… thơ anh khâu vào người ta như kim, như chỉ, như lúa chín, như cỏ may nhằm nhặm thịt da…

Nguyễn Trọng Khánh - Người hành trình trên cánh đồng thơ  - ảnh 1Với đồng bằng. Với làng quê thôn dã.

Với thơ. Với các thi sĩ có tên trên đất Việt...

Trong nhiều phía khai thác những vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, nghĩ suy, tâm tình, cảnh vật… Bài thơ Miền quê tháng sáu của Trọng Khánh được nhiều người ở nhiều vùng biết đến. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã viết lời bình và gọi đó là áng thơ tuyệt tác, thật “quý và hiếm” trong gia sản thơ ca viết về một miền quê đất nước.

Với sáu tập thơ đã xuất bản. Với giọng thơ “dềnh dàng, rỉ rả, lóng lánh duyên thầm”… thơ Trọng Khánh “không Tây, không Âu. Không kim, không cổ. Không tỉnh, không quê… Thơ anh khâu vào người ta như kim, như chỉ, như lúa chín, như cỏ may nhằm nhặm thịt da...

Thơ Trọng Khánh “là cái giọng của người chân thành, người si mê, người thanh thản đi qua bể khổ sân si của cõi người…” (*)

Quả tình, trên thi đàn đất nước, nếu ai đó là nhà thơ của một đời có “bài thơ, câu thơ ta nhớ”, thì “Miền quê tháng sáu” là “bài thơ hay” của Trọng Khánh viết về một vùng đồng bằng với những hình ảnh giàu có thuộc về tầng nổi, tầng sinh động của thế giới thứ nhất. Đấy là bức tranh bộn bề, sinh động của ngoại giới. Đấy là nét chân dung thôn làng thật riêng, thật độc đáo trước một không gian rộng, giàu chất ký, giàu sức liên tưởng, khám phá của nghệ sĩ sáng tạo.

Tháng Sáu…

Chân đen dận thuốc

Đội phên chạy cơn mưa rào

Chuồn chuồn bay thấp

Mưa ngập cầu ao

Chuồn chuồn bay cao

Con cá rô róc…

Rồi:

Đất mình hành tía

Củ bằng bình vôi

Rọc xanh trẻ nhỏ thổi còi gọi nhau

Từ trực giác, từ cảm xúc dồn nén, những câu thơ từ con tim rung cảm của Trọng Khánh cứ gối nhau, bước ra trong nguồn chảy dào dạt:

Tháng sáu ngày xưa

Tháng sáu bây giờ

Đợi nhau bóng nắng tròn vo chân ngày

Rồi:

Răng bừa còm cắn không tan vầng đất

Rồi:

Con trâu buồn nhai lại cả gốc đa

Rồi, điểm sáng của câu thơ hay nhất, ấn tượng nhất được kết tinh trong cái lung linh, ngân đọng được đẩy tới thế này:

Người đi chợ ăn đứng

Người đi cấy ăn ngồi

Con cò áo trắng

Con người áo nâu

 

Lại con trâu

Vẫn con trâu

Đời mày kéo cả đời tao trên đồng…

Rõ ràng, cái kết đọng, hoàn chỉnh và tiêu biểu ở bài thơ “Miền quê tháng sáu” với hàng loạt câu thơ hay được dồn tới cái “Đế,” có sức nâng dậy bài thơ từ giá trị phản ánh tới giá trị phát hiện, kiến giải.

Cùng với rất nhiều câu thơ hay viết về nông thôn, đồng bằng, như:

Nồi bánh chưng cứ sôi về một phía…

Hoặc:

Bát cháo gion nổ bung như cốm nẻ…

Hoặc:

Cây khế ngọt thương tình người lại giống…v.v…

Thì phải nói, cùng với Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Bính và nhiều nhà thơ khác từng viết về thôn làng, quê kiểng, thơ Trọng Khánh mang nét riêng ở cách nhìn, cách nghĩ, cách mô tả ở một tầng bề mặt với một tầng chìm sâu và sức vọng vang có được của nó.

Phải nói, tất cả những gì trong xanh, sâu nặng nhất của tháng năm - mảnh đất với bao nhiêu gian khổ, nhọc nhằn trên đất làng Bao Hàm (cửa biển Diêm Điền, Thái Thuỵ, Thái Bình), nơi quê hương nhà thơ sinh ra, lớn lên đã hoà vào máu thịt và bước vào trang thơ Trọng Khánh, làm nên phút thăng hoa, như hạt muối mặn mòi, trắng thơm mà cầm được, mà soi thấy cả đại dương trong đó.

Là người quê, thơ viết về đất quê, nhưng hồn thơ, giọng thơ, thể cách và phẩm cách thơ đã ôm chứa cái cụ thể, cái khái quát, bao trùm… Thơ trụ lại ở cái đích với hiệu quả cao nhất.

Còn nhớ, cuối năm 1971, Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình vừa thành lập, từ Báo Quân khu Tả ngạn, tôi được chuyển ngành về Hội làm cán bộ biên tập, xuất bản. Mãi đầu năm 1980, tôi mới gặp và quen thân Trọng Khánh. Buổi ấy, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ kết thúc, Trọng Khánh, thầy chủ nhiệm khoa chuyên Hoá - Sinh, trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Kiên Giang vừa hoàn thành nhiệm vụ sau thời gian dài từ Thái Bình xung phong vào công tác ở các tỉnh phía Nam.

Dáng người cao. Gương mặt đẹp. Trọng Khánh sáng lên vẻ yêu tin, gần gũi. Nhất là,guigd.onhuvao  Buu  cái mũi thẳng và nét thông minh ở cái nhìn, cái cười nom thật lành và hóm. Như cái duyên hay là sự đặt bày trong tiền định. Kể từ buổi ban đầu “tương ngộ” rồi mãi mãi sau này, tôi và Trọng Khánh đã làm nên tình bạn, tình văn chương gắn kết thật sâu nặng trên một vùng đất.

Trọng Khánh yêu thơ và sáng tác thơ từ lâu. Nhưng những bài thơ gọi là “ngẫu hứng” ấy, Trọng Khánh chỉ giữ làm kỷ niệm, lặng thầm xếp dầy trong “ngăn kéo” đời riêng.

Khi Phạm Ngọc Ngoạn, bạn thân của Trọng Khánh và tôi. Ngọc Ngoạn là Tiến sĩ khoa học, là giám đốc “loại mạnh” trong làng kinh tế. Ngoạn “mê và trọng” văn chương như không ai gặp và nghĩ, “ với văn chương, Phạm Ngọc Ngoạn lại là người ngoại đạo”.

Nhưng, bắt đầu từ một kỷ niệm ở cuộc gặp vui, cùng cụng ly, cùng “đàm thiên, thuyết địa, luận nhân”, Ngọc Ngoạn kết nối Trọng Khánh với tôi và mang thơ Trọng Khánh “trình làng”.

Đúng như thi sĩ Chế Lan Viên từng viết: “Thơ hay giống như gái đẹp / Đi đâu, ở đâu cũng lấy được chồng”.

Trong rất nhiều bài thơ Khánh viết, tôi “chộp” được “Miền quê tháng sáu”, một bài thơ hay, hiếm thấy ở mảnh đất đồng bằng, hiếm gặp ở báo chí trên đăng đàn đất nước. Là ngưòi làm công tác sáng tác, biên tập văn học, tôi thật vui, đem lòng yêu thơ và con người thơ Trọng Khánh. Thế rồi, từ buổi ấy, thơ Trọng Khánh xuất hiện dầy hơn trên Tạp chí Văn nghệ Thái Bình, đặc san Báo Thái Bình. Rồi, Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ quân đội và nhiều tuyển tập thơ khác. Trọng Khánh trở thành Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình, Hội viên Hội Nhà văn của đất nước…

Trọng Khánh có duyên trong các cuộc thi sáng tác văn học. Năm 1985-1990, Trọng Khánh đoạt giải Nhất cuộc thi thơ do Bộ Giáo dục đào tạo tổ chức.

Nếu như, “Miền quê tháng sáu” là bài thơ “tuyệt tác” viết về mảnh đất đồng bằng, thì “Người đánh trống trường tôi”, bài thơ được trao giải nhất cuộc thi viết về thầy giáo và nhà trường của Trọng Khánh cũng xứng với thương hiệu “hàng đầu” ở hàng nghìn bài dự thi, ở tứ thơ, ở hình ảnh thơ, ở thi liệu, thi pháp.

Mới đây, tháng 8 năm 2010, cuộc thi thơ của Báo Gia đình & Xã hội, bài thơ “Đêm bệnh viện” của Trọng Khánh trong chùm thơ đoạt giải Nhất lại lần nữa khẳng định một bến bờ, dấu mốc trong lao động sáng tạo nghệ thuật của anh. Bài thơ xúc động và lắng sâu ở cảm xúc, cái nhìn, với ý thức quan tâm của nhà văn trước “cõi người thăm thẳm”…

Với sáu tập thơ: Bụi phấn hương tay (1990), Huyền thoại đền Đồng Bằng (1993), Mưa (1995), Nắng vào thu (2003), Hoa đồng tiền đêm (2005) và Ném bụi phấn vào đêm (2009), thơ Trọng Khánh là mạch nguồn của dòng chảy dài, lắng trầm, êm xanh mà xoáy xiết.

Trong bến bờ tìm kiếm, có thể thấy, một Trọng Khánh với mảng đậm sâu của thơ ở phút giây nhập hoà giữa “người - thơ” và một phía thuộc về đại giác.

Thơ ở đây là tiếng lòng của người trong cuộc. Thơ dội lên từ kỷ niệm, ký ức. Thơ là mảnh đời ấu thơ thật quặn lòng, diết da của Trọng Khánh mang ơn sâu người mẹ một thời thật xinh đẹp, tảo tần. Từng bắt cáy, hái rau trên bãi vắng. Từng nhiều năm một mình, một bóng nuôi con.

Thơ là giọng mẹ se lòng gửi vào câu Kiều, lời ru còn ngàn năm vang động.

Rồi, người cha, với chiếc địu trên lưng. Với bàn tay dắt Khánh từng bước xa nhà đi học, đi các vùng tản cư trong tiếng súng đánh Pháp. Trong những năm cụ làm việc ở Thái Bình, ở cơ quan “Toà án tối cao” nơi kinh thành Hà Nội. Thơ Khánh là bức tranh hằn sâu bao tâm tình, máu thịt của nhà thơ về miền đất nắng mưa, về quãng đời mong manh, thương cảm.

Bởi vậy, khi nghĩ về quê hương, về Mẹ, anh viết :

Đêm cuối năm tiếng chày ai giã gạo

Gà gáy dồn, sương đậm rổ rau con

Ánh đèn dầu heo hắt mảnh khăn vuông aong nhug     Khi Phamon ngu

Trên bậc cửa mẹ têm trầu sáng sớm…

Rồi:

Mưa sớm quá sợ nắng lên chết rột

Chiếc cuốc cùn khơi đất rãnh gan gà

Con trâu buồn nhai lại cả gốc đa…

(Mẹ)

Đánh thức hồn mình từ những gì qua con mắt nhìn ngắm, Trọng Khánh tìm ở trực giác những nét quê in đậm sắc màu trong mưa nắng, mùa màng, trong gian lao, làng quê, năm tháng… Hình như, mỗi khi chạm đến “khoảng xanh này”, thơ Trọng Khánh dễ lung linh, sống động. Và, người quê, cảnh quê cứ ùa ra trong nét vẽ, trong câu thơ tả thực:

Người quê mình biết ngày nào chủ nhật

Chỉ thuộc lòng những buổi chợ phiên…

Rồi:

Thời tiết đọng trong đêm đổ ải

Giọt mồ hôi rơi vào bát nước vối

Chất mặn tìm chất chát để thương nhau

Rồi:

Bà ngoại lưng còng ho nặng về khuya

Nhà tranh gầy lủng củng những nong nia…

… Em ở vậy, giã cốm phồng đỡ mẹ

Hoặc:

Ánh đèn con bập bùng khăn mỏ quạ

Miếng trầu xanh hoá thân thành bã đỏ

Hoặc:

Câu hát chèo xóm Chùa qua kẽ liếp

Mẹ tôi cười đen nhánh nét răng đen…

Người đọc gặp bóng dáng thôn làng rất đỗi thân thương qua thơ Trọng Khánh ở một thời nghe rất gần đâu đó. Từ cái ứ đầy trong ngắm nhìn, mô tả, thơ Trọng Khánh được khơi lên từ “cái có” thật dồi dào. Nó như “vỉa” sẵn chứa trong anh. Hình ảnh quê hương ở đây luôn “động” với nhiều dáng vẻ qua những câu thơ được “cá thể hóa”. Từ “Con trâu buồn nhai lại cả gốc đa” đến “Con cò áo trắng, con người áo nâu”. Hoặc “Vẫn con trâu/ Lại con trâu/ Đời mày kéo cả đời tao trên đồng”… Rồi, trong cái khắc nghiệt của tiết đông giá rét, anh nhìn thấy bóng hình người mẹ còn “già hơn cả gió đông” nỏ trời, héo đất nữa kia …

Tất cả những gì có từ cái gặp, thơ Trọng Khánh đằm thắm thương yêu từ tấm lòng cảm rung, chân thành của người cầm bút. Đây là mạch nguồn dễ nhìn thấy nét trội. Bởi, viết về vấn đề gì, khi quay về “cái vỉa” khám phá, Trọng Khánh đều có được những câu thơ đáng nhớ.

Ví như, viết “Gửi em cô gái sông Đà”, đây là hình ảnh người mẹ mong đứa con xa trong những ngày giáp Tết:

Cha mẹ mong em quả gấc chín để phần

Nồi bánh chưng cứ sôi về một phía

Hoặc, khi hồi tưởng về những ngày thơ ấu, nơi chôn rau cắt rốn lại hiện về trong nét riêng quê kiểng:

Bức tường đất

xình

 từ mùa thu trước

Đợt mưa dầm đã vẹt mòn chân rết

Cái ngõ con xiêu vẹo ruột xóm nghèo…

Rồi:

Bong bóng con cõng nhau qua lỗ lội

Bùn lầy lấm mái đầu xanh

(Hồi thơ ấu)

Và,

Bát cháo gion nổ bung như cốm nẻ

Vị răm cay cùng chất bể mặn mòi…

Rõ ràng, nếu không phải người từng đằm mình trong vùng quê kiểng ấy, thì hình ảnh, những “Bức tường… Những trận mưa đã vẹt mòn chân rết”. Rồi, “Bong bóng cõng nhau qua lỗ lội”. Rồi, “Cái ngõ con xiêu vẹo ruột xóm nghèo” v.v… và, v.v… thơ Trọng Khánh sao có được những câu thật “rờn xanh” đến thế ?...

Ba mươi sáu năm sống, gắn bó với Thái Bình, tôi có với Trọng Khánh gần ba chục thu trời cùng giao du, bó bện. Những ngày sống. Những cuộc đi. Những cuộc rượu. Những vui buồn sẻ chia của những người bạn trai là tri kỷ, tri âm.

Ở các quán nhậu, quán cà phê ven sông Trà, chùa Tiền, phố Vọng cung “tỉnh Thái”… Bao nhiêu năm trời, đêm nào, tôi và Khánh, “hai người trai ấy” cũng lặng im cùng nhau nâng ly rượu. Nhìn thị xã vào khuya. Nhìn đêm sâu. Nhìn hai cái bóng đổ dài, đang hoà thành bóng lẻ.

Bùi Thị Đoan, vợ Trọng Khánh, người xinh đẹp, nết na. Đoan yêu Khánh, thương “tình đôi bạn”. Đoan thu xếp, lo cho chúng tôi ăn bữa tối với nhau. Thường ngày, tôi nấu cơm chờ Khánh mỗi chiều. Là thầy giáo, nhiều buổi, Trọng Khánh phải dạy tới ba bốn ca liền. Có đêm mưa gió, lỡ chợ, cả hai phải khoác áo đội mưa, dẫn nhau tìm vào các quán, lo bữa. Tôi viết nhiều thơ tặng Khánh. Bạn bè thường nhớ những câu:

Bỗng dưng gió lạnh chiều nay

Ta ngồi đợi bạn dưới cây thông già

Hôm nao cũng thế này mà

Chiều không có bạn còn là chiều đâu

Trời cho ta có bạn bầu

Thế gian này hỏi ai giàu hơn ta...

Hoặc:

Nếu là bạn gái bạn ơi

Chắc gì ta có cuộc chơi thế này

Hai thằng chưa uống đã say

Chưa mưa đã lạnh, chưa mây đã sầu…

Hoặc:

Khuya rồi, thôi bạn về đi

Đẹp trai thì chớ, vợ thì hay ghen

Hai ta thơ phú bông phèng

Yêu nhau nói mãi lời quen vẫn tình..

Hoặc:

Bạn về đi, vợ mong rồi

Kệ ta, ta với thơ ngồi thở than…

Hoặc:

Thôi, mình ta thức đêm thâu

Bạn về với vợ, hôm sau ta tìm…

Đất Thái Bình hẹp, nhỏ. Trọng Khánh dạy nhiều lứa học trò. Tôi là nhà thơ công tác ở cơ quan Hội, lại nhiều năm có nhiều buổi trò chuyện văn chương với các cơ quan trong tỉnh. Mỗi lần gặp chúng tôi, nhiều người quen, họ thường ngân lên câu thơ: “Chuông Khánh còn chẳng ăn ai/ Nói chi mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre..”

Đấy là câu ca xưa cũ, họ đọc cho vui. Tôi lấy câu thơ này “làm mở” để tựa vào “hứng”, viết tiếp bài thơ tặng Khánh, rằng:

Chuông Khánh còn chẳng ăn ai

Nói chi mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre

Thấy hai ta cứ cặp kè

Họ đùa một chút vần vè thế thôi

Thơ làm ta đến mê tơi

Bốn mươi năm gánh một trời trên vai

Ngổn ngang câu ngắn, câu dài

Câu đau ta nhận, tặng đời câu vui

Trọng Khánh lành, giàu tình cảm, giàu tư chất người thầy. Trên mảnh đất Thái Bình, Khánh là nhà giáo ưu tú. Một cuộc đời người thầy có trên chín mươi học trò đoạt giải cao môn Hoá trong các cuộc thi quốc gia, quốc tế.

Năm 2005, Trọng Khánh được Bộ Giáo dục cử làm quan sát viên dẫn học trò thi Olempic Quốc tế môn Hoá tại Cộng hoà Liên bang Đức và đoạt được giải cao. Khánh thơ hay, dạy giỏi. Người chân tình, tận tuỵ. Nhiều học trò và anh em bầu bạn nể trọng, biết ơn.

*

Có một câu thơ tôi viết tặng Khánh :

Hình như là có ông trời

Buộc hai ta lại làm đời yêu say…”

Trong một bài thơ, tôi đã viết như thế. Ở đời, nhiều bạn trai có tấm tình thật quý. Bao năm trời, tôi và Khánh quấn quýt, không thể xa nhau.

Năm 2005, nửa năm trời ngồi “cày” tiểu thuyêt “Nửa khuất mặt người”. Muốn tập trung thời gian không bị cắt xén để hoàn thành bản thảo đưa in, có lúc, tôi thầm mong Trọng Khánh đi vắng. Ai dè, bỗng dưng, Khánh được cử đi nước ngoài công tác.

Buổi ấy, tiễn Khánh đi rồi, tôi lao vào phòng văn, khép cửa cặm cụi viết. Lúc buông cây bút, chợt nhìn về phía sân nhà. Trời đã tối lúc nào. Trăng đầu tháng đã mong manh sáng. Như thường ngày, tôi chạy ra ngõ đón bạn. Nhưng, “Khánh ơi. Hôm nay, đã chẳng thấy bạn về”. Nước mắt tôi bỗng trào ra, ứ nghẹn. Ồ! Đã là cha là mẹ. Đã nên ông nên bà. Đã bốn năm chục tuổi, ít gì ? Tôi tự cười mình, dỗ dành mình. Rằng, “Thôi vui lên, yên tâm đi. Để bạn ta, “Khánh của ta”, lên đường gặp được nhiều may mắn”.

Thực tình, những người biết và quen Khánh, ai cũng đem lòng yêu anh, người chân thành, tốt bụng. Tôi đã nhiều lần nhìn Khánh mải mê từ thị xã đi về chăm sóc mẹ già, chăm sóc các em nơi xóm quê mà rưng rưng nghĩ về cái nghĩa, cái tình, cái gương trong và rộng sâu của chữ đức, chữ tâm, chữ hiếu trong con người Trọng Khánh.

Tôi đã rơi nước mắt khi thấy Khánh lo toan cho bạn anh, hoạ sĩ Trần Dậu lúc gia cảnh khốn cùng.

Tôi đã khóc, khi ngắm Khánh bập bõm, bước ngả nghiêng trên nghĩa địa. Dáng phờ phạc, lưng cứng đau, tay đắp đất, tay run rẩy cắm từng nén nhang trên phần mộ, miệng lầm rầm khấn vái khi Trần Dậu, khi thầy giáo Long, bạn anh xấu số qua đời…

Trọng Khánh yếu đau luôn sau một lần “ngã gió”. Nhưng, nhìn Khánh nét mặt tươi, cái miệng lúc nào cũng cười vui, hồn hậu.

Thường ngày, sau những giờ miệt mài trên lớp, lúc nào bạn bè cũng thấy Khánh ngồi bên ly rượu. Có điều, trước chén rượu nhìn Khánh hồn nhiên hơn. Đẹp hơn. Thuyết lý hay, thông minh, khúc triết hơn. Ít ai biết, Khánh lặng trầm, nhấm nháp nhiều nỗi niềm sâu kín.

Mấy chục năm nâng ly cùng Trọng Khánh, chỉ một lần khi chỉ có hai người, Khánh đã say trước sự chịu đựng của cơ thể. Tôi nhìn Khánh, nhẹ lời khuyên bạn: “Ông không khéo, rồi sẽ khổ vì rượu đấy, Khánh ạ!”.

“Ồ, vui chưa!” Trọng Khánh vội nhổm dậy, giọng nổi giận: “Này. Đừng vớ vẩn. Chỉ có rượu khổ vì tôi thì có. Chứ, tôi làm sao phải khổ vì rượu được.”

“A. Gớm ghê nhỉ. Một câu nói hay”. Tôi nhìn Khánh đùa vui: “Nhưng, với tình yêu, “Ngươi” đã thua mấy không rồi chứ? Ai đời: Yêu nhau đứng ở đằng xa/ Nếu em tiến lại, thì ta phải lùi… Đúng không ?”

Bấy giờ, Trọng Khánh cười vui. Khánh không say nữa. Anh ngồi dậy, giọng tỉnh bơ, tay lại nâng ly rượu nhâm nhi. “Hừ. Chuyện nhỏ”.

Vâng. Đấy là đời. Khánh người si mê, đắm đuối.

Khánh dễ rung, dễ “yêu say bằng mắt”. Khánh đề cao chất thi vị, trữ tình. Khánh khác bạn nhiều tính cách, quan niệm. Khánh cảm thông, ôm chứa. Khánh lịch lãm, vì người ...

Với thơ, trên chặng đuờng chuyển tiếp, ở sáu tập thơ được lần lượt trình làng, với nét trội, sung sức là tạo dựng những bức tranh ngoại giới, Trọng Khánh lại hướng thơ vào một vệt tìm khác. Anh nghiêng về tư duy, muốn đưa thơ tới được những ý nghĩa sâu hơn qua nhiều tầng xới lật.

Từ “Hoài niệm, Đánh mất, Tồn tại đến Người săn tìm cái đẹp, Đối lập, Tri thiên mệnh v.v… Ở hướng tìm này, khác hẳn những bài thơ bộn bề cảm xúc, những câu thơ giàu hình ảnh và tươi tắn bóng dáng đời sống quen gần, thơ Trọng Khánh đi vào những khái niệm, những triết lý trầm tĩnh.

Ví như, trước sự vận động và tồn tại, anh viết:

Tồn tại bằng trí tuệ

Ta và ta một mình  sau ta timaa ta tho                

Hoặc, trong bài “Đánh mất”, anh triết luận:

Thì ra những người nghèo

Lại thường hay đánh mất.

Hoặc, khi nghĩ về “Thiếu - thừa”, anh chiêm nghiệm:

Thiếu thừa cũng là đủ cả

Đời còn có phút nhênh nhang

Niềm vui nào cũng vất vả

Nỗi buồn nào cũng mênh mang

Hoặc, trong bài “Vô đề”, anh nghĩ ngợi:

Câu nói ấy bay rồi, anh biết

Bởi những gì đung đưa trong khoảnh khắc

Thế nào cũng rơi…

Phải nói, khi Trọng Khánh hướng thơ vào sự suy ngẫm, mong tìm ra những phát hiện, những điểm sáng của ý nghĩa vạn vật. Cái có lý ở lứa tuổi anh, khi trực giác không còn là thế mạnh, cái day trở, suy tư đang dội vang trong từng bước ngắm nghía, lộ trình. Song, đôi khi cảm xúc không cùng lúc bay bổng với ngôn ngữ bùng nổ trong sự linh diệu của nghệ thuật đồng hiện, thơ dễ trụi trần, tĩnh, cứng.

Tôi thích bài “thơ văn xuôi” có tựa đề: “Tôi” với những gi thật bề bộn, lấp lánh. Bài “Đêm bệnh viện”, giàu cái cảm, cái nghĩ. Và, những bài nhuần nhuyễn có đủ hai cánh bay, có đủ độ “nồng” và “sâu”. Và, tươi tắn thế này:

Chim trời từ đâu đến

Ríu rít góc vườn nhà

Ngày mai bay đi hết

Trống trải mảnh hồn ta

(Giấc mơ riêng mình)

Hoặc:

Chúng mình có đủ cả hai

Cả hai đứa với một chai là Đời

Hoặc:

Em xa anh mùa lá cây đang rụng

Những cành bàng lúng túng với trời xanh

Và,

Tôi gặp em ngày ấy

Tháng buồn trong lam sương

Năm buồn trong thác chảy

Đời buồn trong yêu thương

Gặp nhau từ thuở ấy

Ta buồn trong ta hơn…

Bây giờ, Trọng Khánh đã “Ném bụi phấn vào đêm” như tên tập thơ mới nhất, mà nhà thơ, người thầy giáo này vừa cho in khi trải qua 40 năm, từ giã mái trường với lớp lớp học trò thân yêu của mình, về sống và viết tại thành phố Thái Bình.

Sự chuyên tâm, chuyên sâu với tâm huyết ở chặng đường cuối, chặng đường nước rút và về đích…

Là bạn thơ, “bạn đời,” tôi tin, cầu chúc và ngóng trông Trọng Khánh ở lộ trình dọc cánh đồng thơ, từ “Miền quê tháng sáu” đến bến bờ có được trong cuộc say, “mình tìm được chính mình !”.

Quê Trạng, Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

Thu - 2010

Nhà thơ Kim Chuông 

Nhà thơ NGUYỄN TRỌNG KHÁNH

 

Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam

Sinh tại: Thái Thuỵ, Thái Bình

Là Cử nhân Hoá học - Nhà giáo Ưu tú.

Đã qua 40 năm giảng dạy tại các trường Cao đẳng Sư phạm và trường PTTH Chuyên, khoa Hóa.

Hiện sống và viết tại thành phố Thái Bình.

Đã in 6 tập thơ:

- Bụi phấn - Nxb Thanh niên, 1990

- Huyền thoại Đền Đồng bằng - Hội VHNT Thái Bình, 1993

- Mưa - NXB Văn học, 1995

- Nắng vào thu - NXB Hội Nhà văn, 2003

- Hoa đồng tiền đêm, NXB Hội Nhà văn, 2005

- Bụi phấn ném vào đêm - NXB Hội Nhà văn, 2008

Giải thưởng:

- Giải Nhất Thơ, cuộc thi thơ Báo Giáo dục thời đại, 1985-1990

- Giải Chính thức Thơ, Giải thưởng VHNT Lê Quý Đôn, tỉnh Thái Bình, 1985-1990

- Giải A thơ, cuộc thi sáng tác văn học viết cho thiếu nhi - Hội VHNT Thái Bình, 1995

- Giải Nhất Thơ, Báo Gia đình Xã hội, 2010.


-------------------

(*) Đọc “Nắng vào thu” - Nguyễn Trọng Tạo, 2003

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác