Nguyễn Thế Tường - 2 trong 1

(Toquoc)- Bản thân Nguyễn Thế Tường làm nên tác phẩm của anh, bao giờ cũng lắng lại một chữ “TÌNH”. Tình yêu. Tình đồng đội. Tình quan dân. Tình quê hương bản quán. Tất cả đã được Nguyễn Thế Tường gói gọn nồng nàn và trung thực, mơ màng mà sâu sắc trong những trang viết.

Khi tôi mới vào đời, Nguyễn Thế Tường đã là một nhà báo có thương hiệu. Gặp anh lần đầu tiên, tôi kính cẩn gọi anh bằng chú: Chú Tường. Đợi một nụ cười vốn cởi mở, ai dè va phải gương mặt nghiêm trang cùng lời gắt gỏng: Tôi bà con họ hàng gì với cô mà chú chú cháu cháu. Ngỡ ngàng tưởng mình phạm tội Thấy người sang bắt quàng làm họ”, bỗng nghe chú nói nhỏ mà quả quyết: Anh Tường chứ! Tôi còn trẻ! Trái tim mới 18!”. Và tôi gọi chú bằng anh. Hồi đó anh Tường sang tuổi 40. Bây giờ, 15 năm sau, trên mái tóc anh muối đã nhiều hơn tiêu, Thế Tường vẫn nói rằng trái tim anh đang còn 18.

Giới thiệu thân thế ở tất cả các ấn phẩm (Hồi ức một Binh nhì - tập truyện ngắn - 1993, Đường về quê - truyện ký, 1996; Gót lữ đoàn - tập truyện ngắn, 1998; Bức thư gửi người đã chết - bút ký phóng sự, 2001; Người đàn bà không hoá đá - tập truyện ngắn, 2005), Nguyễn Thế Tường chỉ có vài dòng ngắn gọn, đại ý: Nguyễn Thế Tường, Lệ Thuỷ - Quảng Bình, Cử nhân Văn khoa, Lái xe tăng cấp I. Đây là niềm tự hào của riêng anh. Dễ hiểu thôi: Tiếng Lệ Thuỷ đã đi ngàn phương vẫn khó lẫn. Phong thái ngang tàng và tếu táo. Chiếc xe tăng được xăm trên cánh tay trái từ ngày anh là một chàng lính trẻ. Nhưng dù là gì: Cử nhân văn khoa lãng mạn, lính tăng dũng mãnh, nhà báo hay nhà văn, Nguyễn Thế Tường vẫn đinh ninh rằng “Mai sau dù có… Tôi vẫn là một anh nông dân ruộng sâu lúc nào cũng muốn lội ra giữa cánh đồng bát ngát thơm mùi lúa, mùi cỏ mật, mùi bùn ngai ngái, mùi tanh cá đồng. Cơ man là cá tôm trong năn lác tuổi thơ tôi. Trái tim tôi là một cánh đồng hoang đủ chỗ cho chín mươi chín con chim về làm tổ, đẻ trứng”.

Nguyễn Thế Tường đã băng qua hơn nửa đời người. Anh sinh năm Nhâm Thìn, ở một làng quê được xem là trũng nhất của lòng chảo” Lệ Thuỷ. Anh yêu quê bằng tình cảm lắng sâu. Anh nhớ quê bằng nỗi nhớ gọi được bằng lời. Trong dòng hồi ức thẳm sâu của Nguyễn Thế Tường, quê hương hoá thân vào cây Cừa xoã tóc đứng bên sông. Quê hương trong anh đằm sâu một thuở bé thơ khó nghèo và trong trẻo “Băng qua vùng đầm phá này có hàng nghìn hàng vạn thân phận trẻ thơ như tôi: Cắt cỏ, vớt rong, cắt lác, đánh cá, vớt rạm, xúc tôm, bẫy chim... làm mọi nghề kiếm sống qua ngày trong hàng thập kỷ giêng hai đói xanh mắt, để được đến trường. Chúng tôi, nhiều thế hệ vùng dân cư rộng lớn lưu vực sông Kiến Giang, ven đồi cát duyên hải, vùng chân thềm Trường Sơn, đều được học qua cái trường đời nghiệt ngã trên mặt phá. Và, cũng chính từ mắt nước lạnh lẽo hoang sơ đầy năn, lác, cỏ dại và vô vàn động vật nước lợ, đi đến ngày hôm nay, học những điều cao siêu của ngôn ngữ, của khoa học nhân văn, đạo làm dân để lớn lên thành người (Ký sự hạc hải). Thế nên bây giờ đã thành danh, nhà lầu, xe xịn, lại còn dư giả chút đỉnh, thừa một góc bát cơm, miếng cháy, mẩu bánh mì anh vẫn dạy con “Cất tủ lạnh… mai ăn”. Vật đổi sao dời quê hương mãi thế: “Con sông quê tôi đẹp lạ lùng. Sông nhỏ nhưng rất sâu, nước trong và mát vô tận. Có điều lạ là càng lên thượng, lòng sông càng mở rộng ra, dòng chảy dường như không còn. Sông nằm yên tĩnh sưởi nắng. Cây trái hai bờ xanh đến ngợp mắt. Ở đây vắng tiếng gõ lòng còng đuổi cá, tuyệt nhiên không có tiếng xe, tiếng máy gì hết. Hai bờ líu ríu tiếng chim sẻ kêu. Tre pheo thả lá vàng xuống nước. Ở một bến rất kín đáo dưới gốc cây cừa xoè tán rậm rạp có cô con gái chao đôi thùng nước. Xa lắm, theo ngọn gió nam vẳng tới tiếng chim cu gù gọi bạn….” - (Thím Lan).

Vẻ đẹp điền viên, cái chất quê mùa của đồng chiêm Lệ Thuỷ là nỗi ám ảnh khôn nguôi thấm sâu, nuôi dưỡng tâm hồn Nguyễn Thế Tường. Ai không hiểu quả không chịu nổi những sở thích khác người của anh. Nạn nhân trực tiếp là chị Kim Anh - một phụ nữ xứ Huế nghe xui dại theo chàng về xứ Lệ. Nguyễn Thế Tường không giấu giếm: “Thấy người ta đào khoai hay tát cá là mình không chịu nổi, nhất định phải đứng lại nghiêng ngó. Gặp đám ruộng năn loáng thoáng vài bụi hoa súng chỉ muốn cầm nơm lội xuống để được lắng nghe (bằng tay) con cá quả chạy cuồng trong nơm”. Trong khuôn viên nhà anh có cả dòng Kiến Giang và phá Hạc Hải thu nhỏ, hoa súng tím và bông bèo xanh, rong rêu và tôm cá. Tôm cá sống do bắt được hoặc mua ở chợ về anh thả xuống con sông nho nhỏ của mình, cây lớn cây bé kiếm được ở đâu anh đem trồng quanh nhà, nhà hết chỗ anh đến trồng nhà khác. Anh nói làm vậy cho đỡ nhớ quê và nếu trời không bắt là nhà báo, nhà văn thì chắc chắn anh sẽ là một lão nông tri điền trọn đời vui thú với ruộng vườn. Nhiều người không muốn ngoái đầu lại quá khứ khó nghèo. Nguyễn Thế Tường ngược lại. Anh thường xuyên tìm về những ngày đã qua ấy trong một nỗi khát thèm cháy bỏng. Thỉnh thoảng gặp chúng tôi, anh cù rủ: Các cậu tổ chức đi chơi đâu xa chút đi! Lên rừng? Về quê? Ở mãi trong phố chán chết, mình chả làm được việc gì ra hồn. Chúng tôi hưởng ứng rồi để đó. Không kéo được ai ra khỏi những toan lo vặt vãnh đời thường, chàng đi một mình. Đến một nơi nào đó, ăn một củ khoai luộc, uống một bắt nước chè, hái dăm ba trái sim chín trên đồi vắng, nói vài câu chuyện đơn sơ với bất kỳ ai anh gặp trên đường và trở về nhà cũng đủ cho Nguyễn Thế Tường thoả mãn.

Đã nếm trải biết mấy buồn vui, sướng khổ, như lời anh tự sự trong một khúc trường ca ngẫu hứng “Hai mươi lăm năm thăng giáng cũng nhiều/ Một phần tư thế kỷ/ Có khi con định làm giàu/ Xe hơi nhà lầu bia long gái đẹp/ Nhưng vốn liếng chẳng nhiều/ Một trái tim, khối óc/ Buôn bán cả ngày, biết lỗ đã hoàng hôn/./ Một thời mẹ dạy con đừng tham hạt bụi trên bàn người khác/ Vi nhân nan! Vi nhân nan! Không lên lương/ chẳng tiến quan, may mà chưa thành tướng cướp”. Nguyễn Thế Tường không “mới” lên được: Mũ phớt trên đầu, chiếc túi khoác chéo trên vai chứa vô vàn thứ như một cửa hàng tạp hoá di động (có cả kim chỉ, tăm xỉa răng và giấy vệ sinh chắc vì anh là người có những phút hứng chí bất chợt nên phải mang theo đủ thứ bên mình lỡ có đi đâu xa), chân dận giày khủng bố, tất khi có khi không (nếu có bao giờ cũng chiếc lành chiếc thủng - theo lời Nguyễn Thế Tường thì do anh khoét ra để cho thoáng). Quen thân anh đã lâu, tôi chỉ thấy Nguyễn Thế Tường tươm tất nhất trong bộ cánh anh mặc chụp ảnh chân dung in trong tập truyện ký “Đường về quê” năm 1996: Đầu đội mũ nồi lệch, mắt đeo kính trắng, râu ria tỉa tót, áo trắng mặc trong áo ghi-lê khoác ngoài, thắt cravát. Có lẽ cho đó là bức ảnh đẹp nhất trên đời nên Nguyễn Thế Tường đã dùng in lại trên trang bìa của các tuyển tập sau. Diện mạo cũ nhưng Thế Tường là của hôm nay - Con người nhập thế. Anh bước đi phăm phăm đến bất cứ chỗ nào thấy cần phải đến. Bản thân không có chỗ cho hai từ: Ngại ngần. Thẳng thắn, bộc trực, nhiều khi đến mức thái quá. Tán dương chỉ trích đều được đẩy đến tận cùng. Nhiều người ngại, cũng không ít người quý. Nguyễn Thế Tường thường hóm hỉnh xưng tụng mình rằng: “Thế này nhưng rất nhiều em đẹp xinh thích mình. Chẳng sức nghỉn đâu mà chiều! Tiếc thật!”. Quả là anh có năng lực thu hút sự chú ý của người khác nhờ phong thái cu cũ quê quê, nhờ khẩu khí ngang tàng tếu táo. Trong các cuộc gặp gỡ, hội hè nếu có mặt, anh sẽ được mời lên diễn đàn. Anh chưa bao giờ từ chối, phăm phăm bước lên bục và nói… lúc đầu có vẻ khiêm nhường cẩn trọng, rào trước đón sau nhưng càng nói càng hăng, nói như chưa bao giờ được nói và Nguyễn Thế Tường lại bộc lộ tất cả sự thẳng thắn, bộc trực cố hữu của mình. Người thích. Người không. Có khi mếch lòng lãnh đạo. Giã từ diễn đàn nghe ai kể lại, anh cười khà khà: “Thế à, mình chẳng biết. Thôi, để lần sau! Lần sau vẫn thế ! Lãnh đạo tỉnh nhìn quanh một lượt: Mời anh Thế Tường! Và Nguyễn Thế Tường lại cười cười, phăm phăm bước lên bục: Khổ quá! Tôi định không nói gì” rồi bắt đầu thao thao bất tuỵêt. Nghe nói năng khiếu bẩm sinh này của Nguyễn Thế Tường trở thành “nỗi lo” của bà xã anh.

Trong mấy mươi năm cuộc đời, bốn năm “thực tập” ở chiến trường trong đội hình Lữ đoàn xe tăng 202 đã để lại trong Nguyễn Thế Tường những ký ức không hề phôi pha. Mảng truyện ngắn là mảnh đất mỡ màu để anh gửi gắm những kỷ niệm dữ dội và ngọt ngào những ngày mặc áo lính. Trong tập “Gót lữ đoàn” - Nhà xuất bản Hội Nhà văn - năm 1998 với một số truyện ngắn như: Hồi ức của một binh nhì, Lính giảng Kiều, Điều không thể mất, Vết thương lòng, Nguyễn Thế Tường đã ghi lại tất cả những hồi ức vừa lãng mạn vừa bi tráng của một đời lính: Chúng tôi, hai mươi năm qua có người đã ngã xuống ở chiến trường như những hiệp sỹ chết vì quê hương và người đẹp. Có người bị thương cháy hết mặt mày đã lui về làm vườn vào Hội Cựu chiến binh vùng sơn cước. May thay chưa có ai chết vì tuy lạc xa hoa. Chúng tôi vẫn là những Hoàng Sâm, Quốc Tuấn, Mạnh Tường... tuyệt diệu của các em. Tuy đôi mắt có nhiều nếp nhăn, râu ria có mọc rậm rạp, nhưng trái tim vẫn trẻ trung, vẫn nguyên vẹn đến hoang sơ những kỷ nhiệm ngọt ngào cới các em.” (Hồi ức của một binh nhì). Tác phẩm “Hồi ức của một binh nhì” đạt giải nhì truyện ngắn trên tạp chí Văn nghệ Quân đội 1992 - 1994. Các tập “Gót lữ đoàn” , “Người đàn bà không hoá đá” được trao Giải thưởng Lưu Trọng Lư - Giải thưởng về Văn học - Nghệ thuật danh giá nhất của tỉnh. Truyện ngắn “Chiều hải cảng” được trao giải nhất trong cuộc thi viết thư Nga năm 2000 - Kết quả của những chuyên đề văn học Nga, văn hoá Nga anh tiếp thu được trong những năm ngồi trên ghế sinh viên khoa Văn, Đại học tổng hợp Hà Nội và trên ghế lái chiếc xe tăng Nga T54 ở mặt trận phía Nam.

Viết văn rất muộn: 31 tuổi mới có truyện ngắn, khi đã bén duyên với nghiệp văn, Nguyễn Thế Tường viết liên tục. Từ năm 1993 đến 2005 anh xuất bản liên tục 5 ấn phẩm: Truyện ngắn, truyện ký, phóng sự, Nguyễn Thế Tường là con người đa tâm trạng. Mỗi trang viết của anh là một bức tranh, một bản thu hoạch sống động về mảnh đất và đời người. Không web, không e.mail, không blog (việc mà ngày nay các nhà văn đang rất hứng thú, Nguyễn Thế Tường chỉ một mực với cây bút bi mài trên pháp trường trắng, nhưng tác phẩm Nguyễn Thế Tường đã đến được tất cả những ngóc ngách cuộc sống. Về quê hương Lệ Thuỷ và tuổi thơ anh có: Ký sự Hạc Hải, Về lại Ngư Thuỷ... Về đời lính và những hy sinh lặng lẽ có: Hồi ức của một binh nhì, Lính giảng Kiều, Bàn chân ma, Huyền thoại hang Tám cô và những chuyện đau lòng... Về hiện thực cuộc sống thân gần và mới lạ có: Lời từ biệt Bến phà Gianh, người làm bến đợi... luôn tồn tại trong hai tâm thế: Tâm thế thu nhận thực tế nắm bắt sự kiện để viết báo, tâm thế sàng lọc chi tiết, xây dựng cấu tứ để làm văn, các tác phẩm của Nguyễn Thế Tường lúc nào cũng rộn rã tiết tấu cuộc sống. Anh viết văn trong lối tư duy mở của một người luôn luôn đặt bản thân vào thực tế. Êm đềm như một dòng suối nhỏ (...khung cảnh quen thuộc quê hương kéo tôi về với tuổi thơ ba mươi năm trước. Vẫn cánh đồng mênh mông ngập ngụa nước mọc đầy cây năn cây lác. Trưa mùa hè, lẫn trong tiếng ù ù của gió Nam là giọng con chim trích gù gọi bạn, tiếng vịt kêu mơ hồ lao xao. Gần làng, những thửa ruộng lúa bắt đầu trổ đòng. Tôi, một thắng bé sáu tuổi, tay cầm roi đứng buồn thiu trên bờ cố giữ cho đàn vịt mười con không nhảy xoàm sang ruộng lúa....- Đường về quê). Dạt dào như dòng sông đang trôi về biển lớn (...trăng trung tuần vằng vặc, đồi trung thu lộng gió, lá bạch đàn xao xác rụng, chúng tôi ôm đàn ngồi trên tháp pháp xe tăng thả theo luồng gió Nam mát rượi qua bên kia hàng rào bản tình ca Nga rất “ác chiến”; “Giờ này anh về đâu hởi người bạn cũ cùng binh đoàn... Nếu giờ này bạn hiền còn thiếu một gia đình... có nhiều cô đẹp như khúc ca ban chiều”... ngay trong đêm đó, cái đêm huyền thoại, khi tiếng đàn nức nở lặng đi và những cái bóng eo lưng mặc quân phục màu cỏ úa nhạt hiện ra bên kia hàng rào, chúng tôi đã đến, đã nói chuyện và dường như đã quen nhau lâu lắm rồi, đã tìm nhau lâu lắm rồi, dường như chúng tôi đã yêu nhau...- Hồi ức của một binh nhì). Ào ạt sục sôi cuộn đổ như thác lũ như mưa nguồn (giọng chị mỗi lúc một chậm lại, pha tiếng thở hào hển. Những ngón tay chị bấu vào cái mảnh vải bàn, kéo tấm vải, lôi cái tay anh lại gần. Một ngọn gió đập khẽ vào cái liếp cửa. Ngọn đèn chập chờn... Chị vươn cổ thổi tắt ngọn đèn rồi ngã luôn vào ngươi anh. Người lính bàng hoàng. Anh xoa nhẹ lên bờ vai chị. Thoảng đâu đây mùi hương lá chanh. Tiếng ngáy của người già. Một cánh tay quàng riết lấy lưng anh. Một lực kéo nhẹ nhưng kiên quyết lôi cả hai tịnh tiến đến cái giường tre. Một bước nữa cả hai thân hình sẽ đỗ xuống. Keng keng keng... một tràng âm thanh vang lên- Gót lữ đoàn). Giàu lòng trắc ẩn trước những cảnh đời những phận người (...Tôi kinh hoàng nhận ra người phụ nữ lái đò. Chị đứng đó cô đơn, tối tăm, tóc xoã rối bù, mắt ngước lên phía cầu, nhoà lệ. Trên cầu, dòng người vẫn hối hả kéo qua. Không một ai ngờ rằng có một người lái đò nhìn cầu nhớ thuyền, đứng khóc... Đêm đã khuya lắm. Thị trấn ngủ yên trong cảnh thanh bình. Trăng hạ tuần đứng gác trên ngọn tre, tâm trí tôi vẫn băn khoăn nghĩ về chị lái đò- Chuyến đò ngang). Dằn vặt trước nhân tình (Trong chúng tôi cũng có kể đã chết trong phồn hoa đô hội với chức trọng quyền cao. Họ đã đoạn tuyệt hẳn với quê hương, với quá khứ nhọc nhằn đã dạy họ thành người. Họ như trở nguyên lại những động vật nước lợ thân mềm găm, bám vào chân người đời những vết thương rỉ máu mãi không thôi - Ký sự Hạc Hải) và trở trăn vì thế thái (Vâng, hồi ấy, mọi người sống đẹp lắm. Mọi người sống vì nhau và vì một chân lý lớn: Độc lập - Tự do. Còn bây giờ? Đồng tiền và bao lực hấp dẫn vật chất khiến con người tha hoá đi, liều lĩnh hơn - Huyền thoại hang 8 cô - Bức thư gửi người đã chết)

Hình ảnh được Nguyễn Thế Tường nhắc đến nhiều trong tác phẩm với một tấm lòng chân thật nhất, giọng điệu âu yếm nâng niu nhất là chiếc eo thon và vồng ngực căng tròn của những người đàn bà: Chuyến đò ngang, Người làm bến đợi, Người đàn bà không hoá đá, Thím Lan, Gót lữ đoàn. Tất nhiên, cả hình ảnh người lính. Người lính trận mạc. Người lính yêu. Người lính đời thường. Buồn - vui và được - mất và hạnh phúc - thương đau. Nỗi đau của người lính trong sáng tác của Nguyễn Thế Tường không phải là nổi đau thân xác mà là nổi đau tâm can. Người lính bị trọng thương, tất anh thấu hiểu nổi đau thân xác khi trở trời trái gió, Nguyễn Thế Tường... “khinh” (từ của Nguyễn Thế Tường). Anh đau đáu nỗi đau nhân thế: “Một đời lính trận như tôi, cần chó gì phải đi cầu cạnh ai! Kỷ niệm hay không kỷ niệm thì thôi! Đồng đội hay không đồng đội thì thôi! Cóc cần hội hè đình đám với những kẻ bạc bẽo này nữa. Tôi đến đây, lạy Phật! Vì cái nỗi nhớ thời binh lửa không hiểu sao mãi cứ không chị nguôi ngoai. Và nổi ân hận dường như đã có lúc mình không phải” (Điều không thể mất).

Nguyễn Thế Tường khá linh hoạt trong việc sử dụng các thể loại văn học để gửi gắm ý đồ tư tưởng của mình. Nếu truyện ngắn là nơi anh quay về dĩ vãng sáng trong thì truyện ký - bút ký là mảnh đất để Nguyễn Thế Tường bộc bạch mọi trăn trở trước hiện thực cuộc sống. Dĩ vãng là nguồn nhiệt năng dự trữ để Nguyễn Thế Tường đối mặt với hiện tại. Dung mạo ngang tàng, khẩu khí băm bổ nhưng yếu lòng. Nguyễn Thế Tường có bài hát “tủ”, ca khúc “Câu hò bên bến Hiền Lương” ở bất cứ nơi đâu, có cơ hội (được mời hoặc anh tự lên giới thiệu) là trình diễn. Hát đi hát lại không biết mấy mà kể. Lần nào cũng như lần nào, gương mặt hết sức trang nghiêm, giọng lúc nhoè lúc nét. Có lẽ vì thế mà tuy anh hát không hay nhưng ai cũng xúc động ghê gớm. Bản thân Nguyễn Thế Tường làm nên tác phẩm của anh, bao giờ cũng lắng lại một chữ “TÌNH”. Tình yêu. Tình đồng đội. Tình quan dân. Tình quê hương bản quán. Tất cả đã được Nguyễn Thế Tường gói gọn nồng nàn và trung thực, mơ màng mà sâu sắc trong những trang viết.

Nguyễn Thế Tường vào Nam ra Bắc đã nhiều. Anh nói, chí trai Lệ Thuỷ quê anh dọc ngang lắm, chọc trời khuấy nước vẫy vùng bốn phương cho thoả chí tang bồng, đến khi tóc ngả màu sương hãy quay lại nơi ta cất bước. Có đi đâu về đâu anh vẫn chung thủy với đất đai Quảng Bình, với quê mẹ Lệ Thuỷ như đã chung thủy với người vợ đất Cố đô của anh. “Quảng Bình quê ta ơi! Ai kêu ngoài cánh cửa/ Dạ con đây đi lưu lạc mới về/ Cho com tắm, con ăn, con nằm im ngủ/ Trong ao nhà khoai sắn ổ rơm/ Quảng Bình quê ta ơi! Mẹ già lom khom cạy liếp/ Con đi đâu sao bạc nửa mái đầu/ Cho con xin ngọn gió/ Cho con xin nắm đất/ để con làm thơ và con hát/ Những lời ca xưa mẹ hát/ về đất về người về đời về buồng cau cây khế/ Con múa may con cười con nhảy/ Con đang vui lạy mẹ đừng buồn/ ơi Quảng Bình quê ta!”, một lần đang say sưa tán gẫu bỗng Nguyễn Thế Tường thao thiết đọc những dòng thơ ấy lên và than rằng: “Tôi yêu quê hương đến thế, rứa mà vẫn chưa được vào Đảng. Ôi! 35 năm đời ta đối tượng!”. Nói thế thôi, Nguyễn Thế Tường vẫn sống và viết với một niềm tin không hề rạn vỡ. “Về thôi, hỡi người cựu binh nghĩa tình và lẩn thẩn. Hãy về với làng quê ruộng lúa bờ mương, để tiếp tục phận đàn ông bươn chải mùa màng hôm sớm. Con trai anh đang đợi bên luống này, vợ anh bé con thơ chờ trước ngõ, đừng ngơ ngắc với những gì đang thấy. Hãy một lần vĩnh biệt bạn bè, hãy để họ và cả cái bàn chân ấy lại đây, để họ luôn hát lên âm thanh trầm ấm của đất đai trong dàn đồng ca đất - đời - người luôn đảo phách và biến tấu, và hãy hiểu rằng cái phần thân anh có thấp xuống vài mươi xăng - ti - mét là để cho cuộc đời này ngày một cao hơn.” (Bàn chân ma).

Làng báo gọi Nguyễn Thế Tường là nhà báo. Làng văn ngọi Nguyễn Thế Tường là nhà văn. Vai trò nào anh cũng đã ghi được những dấu ấn nhất định trong công chúng. Hiện nay Nguyễn Thế Tường đang chính vai Nhà báo - Phóng viên chuyên mục “Quảng Bình - Đất nước - Con người” của Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Bình. Lúc nào anh cũng trong trạng thái hối hả: “Mình phải làm việc thật lực đấy, thế mới đủ điểm khoán” và đi, đi phăm phăm, đi một mình mà như đang hành quân trong đội ngũ. Thấy anh chí thú với nghề báo, tôi chạnh nghĩ vậy là anh sẽ sao nhãng nghề văn. Tôi gặp anh nhiều trên ti vi hơn (giọng Nguyễn Thế Tường mà đọc trên ti vi người thờ ơ nhất cũng phải nán lại đôi chút xem thử có chuyện gì đang xảy ra). Vậy mà vui thay vừa rồi gặp anh, Nguyễn Thế Tường thông báo: “Mình vừa đặt dấu chấm hết cho cuốn tiểu thuyết Thím Len”. Tôi yêu mến Nguyễn Thế Tường hơn khi anh là nhà văn. Nhiều người quen cũng nói thế. Làm văn Nguyễn Thế Tường mới đúng là Nguyễn Thế Tường. Nguyễn Thế Tường đã đến tuổi đằm sâu và tĩnh tại. Có phải vì thế mà bây giờ anh có vẻ an phận và cầu toàn. Trước mọi chuyện thị phi, anh lặng lẽ bỏ đi, nếu có ai hỏi đến, Nguyễn Thế Tường nở một nụ cười “bỏ qua”: “Thôi! Hãy tranh thủ mà yêu nhau! Cho nhau nhiều nữa vào! Mất thì giờ vô ích! Như tôi đây, trái tim lúc nào cũng 18”. Rồi anh say sưa kể về những mối tình của mình với một sự hứng khởi và niềm nuối tiếc trào dâng - Những mối tình xa lắc xa lơ diệu vợi đã ba bốn mươi năm hay anh vừa ngẫu hứng sáng tác tức thời cũng không ai đoán chắc.

Nguyễn Thế Tường - 2 trong 1 vài trái tim 18 ngùn ngụt cháy những mối tình mơ mộng, mãi thế được chăng?!

Trương Thu Hiền

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác