Nguyễn Khắc Phê và “di truyền” chữ

Có người hỏi về cái tên PHÊ, Nguyễn Khắc Phê bộc bạch: ”Không có lý do gì đặc biệt cả. Thân phụ tôi là nhà nho nên tên các con trai trong nhà, khi viết chữ Hán, có bộ “thủ” đứng bên trái, cũng như tên của Cụ. Có thể Cụ xem đó là dấu tích “di truyền” về chữ, đồng thời nhắc nhở phải sống và tiến thân bằng chính “đôi tay” của mình (chữ Hán: “thủ” nghĩa là “tay”) chứ đừng ăn bám hay bợ đỡ ai. Và anh đã sống, đã viết, đã hành động đúng cái nết “di truyền chữ” ấy…

Nguyễn Khắc Phê và “di truyền” chữ  - ảnh 11. Nguyễn Khắc Phê là một trong ít nhà văn có gốc gác “oách” nhất trong 17 nhà văn Việt Nam sống ở Huế. Nhắc đến Khắc Phê, ai cũng biết anh quê vùng núi Hương Sơn, Hà Tĩnh nhưng sinh ra ở Huế, là con nhà danh gia vọng tộc. Bố anh là Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm, hai lần Phủ Doãn Thừa Thiên, Quyền Tổng đốc Thanh Hoá, hàm Thượng thư cải cách hương ước. Do có cảm tình với những người yêu nước nên không được lòng Tây, ông chán ghét về hưu sớm (1942). Ông đã để lại dấu ấn đậm nét ở Huế bằng bốn câu đối khắc ở các mặt trụ biểu Thương Bạc; Ông để lại 16 chữ vàng rất minh triết góp kế sách phục hưng quốc gia cho vua Thành Thái mà đến bây giờ còn nguyên giá trị: Tôn tộc đại quy / Tôn lộc đại nguy / Tôn tài đại thịnh / Tôn nịnh đại suy (Trần Đại Vinh dịch: Tôn trọng nòi giống ắt đại hòa hợp Tôn trọng bổng lộc ắt đại nguy nan / Tôn trọng tài năng, ắt đại phồn thịnh / Tôn trọng siểm nịnh, ắt đại suy vong). Tên ông còn khắc ở bia tiến sĩ Huế. Các anh trai nhà văn, cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện là nhà văn hoá lớn, rồi các giáo sư nổi tiếng Nguyễn Khắc Dương, Nguyễn Khắc Phi mà tên tuổi rất được giới trí thức nể trọng. Nguyễn Khắc Phê nói anh “là người chẳng có mấy năng khiếu văn học”, thế mà 40 năm qua, anh đã in 15 cuốn tiểu thuyết, ký… dày dặn và đã nhận được nhiều giải thưởng văn học. Cuộc đời và văn chương Nguyễn Khắc Phê luôn gắn bó với những con đường. Đường ra trận và đường dựng xây đất nước, đường” tâm đạo” và đường “đời” luôn gắn bó, tâm huyết và bản lĩnh… Tuổi vị thành niên Nguyễn Khắc Phê đã ra Hà Nội đi bán sách dạo kiếm sống khắp phố phường Thủ Đô. Anh một thời là cán bộ kỹ thuật cầu đường Quảng Bình vào sinh ra tử. Đó là cái vốn lận lưng căn bản để anh đi vào ma trận văn chương. Mới 20 tuổi (1959) đã có bài ký “Những người đi tiên phong” đăng báo Văn học viết về những người bạn cùng lớp phải thôi học vào Vĩnh Linh mở đường Trường Sơn; rồi cuốn sách đầu tay “Vì sự sống con đường” (1968) viết về cuộc chiến đấu anh hùng trên đèo Mụ Dạ, nơi trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ, mà anh là người trong cuộc. Ban ngày đội bom giữ đường, đêm trong hầm chữ A thắp đèn dầu hoả tù mù viết văn; Rồi Đường qua làng Hạ (tiểu thuyết, 1976); Đường giáp mặt trận (tiểu thuyết, 1976); Chỗ đứng người kỹ sư (tiểu thuyết, 1980); Miền xa kêu gọi (tiểu thuyết, 1985); Những cánh cửa đã mở (tiểu thuyết, 1986); Thập giá giữa rừng sâu (2003).Anh vừa cho ra mắt cuốn tiểu thuyết dày 700 trang Biết đâu địa ngục thiên đường. Theo tôi đây là cuốn sách hay nhất, đời nhất của Nguyễn Khắc Phê.

Đọc văn Nguyễn Khắc Phê ta như sống lại với hiện thực đất nước gian nan, khốc liệt và sống động một thời. Qua văn chương, Nguyễn Khắc Phê muốn đội ngũ trí thức có một chỗ đứng đích thực, không làm “dáng trí thức”, không tiến thân bằng còn đường xu nịnh… Nể trọng lắm lắm.

 

2. Nhưng đối với tôi, anh Phê trong cuộc sống là người lạ lùng, không bắt chước được. Anh đọc rất nhiều, đọc rất nhanh và viết cũng rất nhanh. Đọc rất nhiều sách văn xuôi và sách về văn hoá. Cuốn sách vừa mới xuất hiện, hôm sau đã có bài giới thiệu của anh trên báo. Cắm cúi vài ngày đọc xong cuốn tiểu thuyết dày cộp năm bảy trăm trang, ngay trong đêm lụi cụi gõ bàn phím viết bài giới thiệu.Anh giới thiệu từ bộ tiểu thuyết dày cộp Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác (Mỹ), Đàn hương hình, Báu vật của đời của Mạc Ngôn (Trung Quốc), Người Kinh Đô cũ của Hà Khánh Linh, Phòng tuyên sông Bồ của Đỗ Kim Cuông, bộ sách chưởng “Diệt Tần” mấy cuốn của Long Nhânđến một cuộc triễn lãm tranh nhỏ, một dự án văn hoá ở đầu Sông Hương mới manh nhaRồi viết chân dung, bình tác phẩm của Trần Đức Thảo, Phùng Quán, Vĩnh Mai, Bửu Chỉ… Tất cả những bài phê bình, chân dung ấy anh gom lại sách Hiện thực và sáng tạo tác phẩm văn nghệ (2006) đầy tâm huyết và rất chính kiến. Anh cho rằng người sáng tác không nên khuôn theo một “chủ nghĩa” nào mà sáng tạo là tự do. Để có “tác phẩm lớn, xứng tầm thời đại “theo anh không nên khuôn vào đề tài, vì Truyện Kiều của Nguyễn, Chí Phèo của Nam Cao là tác phẩm lớn, lại viết về con người dưới đáy xã hội. Với trực giác bén nhạy, tâm hồn đa cảm, Nguyễn Khắc Phê viết tản văn rất “nóng” và rất bén. Đó là những vấn đề thế sự gay cấn mang ý nghĩa xã hội sâu rộng. Ví như bài “Tham nhũng và suy thoái văn hoá”, anh nêu vấn đề nếu “quốc nạn” này không được ngăn chặn, cả một thế hệ sẽ bị hư hỏng. Anh luận bàn về dân chủ và vị trí của trí thức. Đây là cuộc đấu tranh khó khăn vì nó tùy thuộc vào chế độ xã hội, vào trình độ dân trí như “Báo động đỏ về sự dối trá”, “Thiểu số và đa số”, “Đảng và Quốc hội”, “Bài học đêm trước Đổi Mới”… Anh lẫy ra rất nhanh những vấn đề triết lý nhân sinh trong những tản văn xuất xứ từ những thông tin hàng ngày như “Chó và quan - xưa và nay”, “Những con chuột khôn ngoan hay 2,9 tỉ và 500 đồng, Nỗi khổ của giám đốc ngày giáp tếtChỉ bàn về chuyện sướng- khổ thôi anh cũng làm cho người đọc phải thấm thía suy nghĩ: …bác xích lô già sau một ngày lao động vất vả…, thong thả đạp xe về với vợ con, miệng nghêu ngao hát những câu ca cổ. Tôi chợt nghĩ bác xích lô ấy so với một sếp tham nhũng ngồi trong ô tô kín bưng, trước những cặp mắt ghẻ lạnh của dân chúng, bụng căng đầy bia thịt và cũng đầy âm mưu móc ngoặc, hối lộ hòng che giấu tội lỗi thì chắc gì ai sướng hơn ai?" (Đời hoa, trang 97). Sau khi đọc bài thơ của tôi viết về mệ ăn xin ngồi ở dốc Bến Ngự“… xe cúp xe con rú máy vèo qua xả khói vào mê nón/ rơi vào mê nón nắng mưa nhiều hơn đồng hào… anh có ngay tản văn sâu sắc: Bà già bên dốc Bến Ngự và những chuyến xe qua. Những tản văn đó anh tập hợp in thành tập Đời hoa (1999). Trộm nghĩ “Hiện thực và sáng tạo…”Đời hoa mới là những tác phẩm thể hiện được tâm nguyện, cá tính và đậm chất Nguyễn Khắc Phê nhất. Dường như càng cao tuổi anh viết càng sắc sảo và chăm chỉ hơn. Tôi trẻ mà không theo nổi. Luôn thấy anh có bài đăng báo. Có lần anh và tôi được nhà Huế học Phan Thuận An mời đi thả thơ, đổ xăm hường dưới đò Sông Hương. Tôi thấy hưng phấn, định về viết một bài cho báo. Tối về, tôi chưa kịp mở máy đã nghe anh điện thoại bảo “mình đã viết bài gửi cho báo Tuổi Trẻ, Thừa Thiên Huế rồi nghe”. Nhanh như điện!

 

3. Con nhà danh giá thế, viết lách sắc sảo thế, nhưng Nguyễn Khắc Phê lúc nào ra đường cũng đội cái mũ lá tơi Hà Tĩnh đặc trưng, đi dép lê, quần áo lùi xùi, trên vai luôn đeo xạch sệ cái túi chẳng có tính trang sức tí nào. Có lần, buổi sáng khai mạc Đại Hội Nhà văn ở Hội trường Ba Đình, tôi thấy anh trên thì cà vạt com lê như ai, nhưng chân lại dép lê, quần ống cao ống thấp. Tôi ngạc nhiên: “Bác vội, quên đi giày à?”. Anh chỉ cười hề hề. Ở Huế anh ít khi có mặt trong các cuộc nhậu vui bạn bè. Bạn bè văn nghệ cũng ít nhậu nhẹt đàn đúm ở nhà anh. Không nghê nga rượu, bia, cà phê ở quán. Ai có việc cần thì đến nhà hỏi anh, uống chén nước rồi về.

Tôi nhớ hoài một kỷ niệm vui. Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, anh xây nhà mới. Anh là nhà văn làm nhà đúc đầu tiên trong đám nhà văn Huế. Hồi đó đói khổ ăn bo bo mà có tiền làm nhà là “ác chiến” lắm, Chúng tôi đang tụ tập ở trụ sở Hội, thèm rượu mà túi đứa nào cũng rỗng. Hải Kỳ (lúc đó đang là sinh viên Đại học Sư phạm Huế) liền vỗ đùi bảo: “Lên nhà anh Phê, đang làm nhà, chắc có rượu”. Thế là mấy đứa đạp xe lên, xuýt xoa khen nhà đẹp, đề nghị anh dẫn đi xem tầng trên từng dưới. Đến góc nào Hải Kỳ cũng đảo mắt xem có chai rượu nào không ? Phải có rượu để đãi thợ chứ ? Bỗng Hải Kỳ reo lên, chỉ vào góc bếp: “Chai gì đây anh Phê?”. “Ừ rượu đấy ! Các cậu uống nhé”. Nói rồi anh xách cái chai rượu trắng ra phòng khách, rót cho một đứa một chén, rồi lại cất vào chỗ cũ. Thế là đứa nào cũng tiu nghỉu, nhịn thèm nhìn theo ! Trong ăn uống anh rất tiết kiệm. Cánh báo chí ở Huế gọi anh là Nguyễn Khắc Khổ hay “khắc cả cà phê”. Có lần Đoàn Văn nghệ sĩ Huế đi thăm 7 tỉnh phía Bắc. Ra Vinh, đoàn được anh Phạn Văn Thìn, lúc đó là chủ tịch Thị xã Cửa Lò mời tiệc. Anh em ai cũng hào hứng vì sẽ được bưã nhậu đã đời thằng mục. Nhưng anh Phê lại ngại tốn kém cho ông Chủ tịch nên luôn miệng can: “Ăn cái gì sơ sơ thôi anh, đừng uống. Mai anh em còn đi!”. Anh ít hiểu về rượu đến mức, hôm vợ chồng nhà văn Hoàng Cát vô Huế, nhờ tôi đưa đến thăm nhà chị Hà Khánh Linh. Chị Linh thết bạn bằng rượu ngon nhấm với bắp non chiên. Bắp non chiên phụ nữ không uống rượu có thể ăn không cũng thú, mà nhấm rượu càng bén. Hà Khánh Linh thật sành điệu món Huế. Nhưng không biết Nguyễn Khắc Phê nghe ai kể, anh lại viết trên báo rằng nhà văn Hà Khánh Linh cho Hoàng Cát uống rượu với chè bắp. Trời đất ơi, chè bắp ngọt làm răng nhấm rượu được.

Có lẽ cái tính “cần kiệm” ấy là do cái khổ nghèo của vùng quê Sơn Hoà, Hương Sơn khắc nghiệt bao đời thấm vào máu anh. Cũng có thể đó là tính “di truyền” từ ông bố Hoàng Giáp. Anh kể rằng: Khi về hưu các việc sinh hoạt bản thân, cụ ít sai bảo, thường tự làm lấy. Thậm chí cụ đi nhặt mo cau làm dép đi trong nhà… Đó cũng là do nếp sống "Nho gia" từ nhỏ ở một vùng quê "cá gỗ". Có người chồng ít “chơi”, ít ăn nhậu rượu chè bù khú như thế, tất nhiên chị Rạng (vợ anh Phê) rất thoả lòng, nhưng anh Phê thì ít giao du, ít bạn. Cả gia đình Nguyễn Khắc Phê đều sống rất “tu dưỡng” cả đời cả đạo. Anh kể: “Con trai Nguyễn Khắc Trung thì ăn chay trường nhiều năm nay, chị Rạng ăn chay 10 ngày/tháng, anh trai độc thân Nguyễn Khắc Dương 84 tuổi (ở cùng nhà) bây giờ cũng thích ăn chay. Trên gác, con trai niệm Phật, sau nhà ngang, anh trai đọc kinh cầu Chúa”, còn anh thì suốt ngày đọc sách và viết báo.

Anh Phê sống lùi xùi, đạm bạc như thế, nhưng dịp đón Xuân Kỷ Sửu năm ngoái, anh chơi sang làm tôi hết sức ngạc nhiên. Anh là Chủ tịch Chi hội Nhà văn Việt Nam tại Huế, sinh hoạt chi hội cuối năm Tý, anh đã bất ngờ tổ chức trao cho ba nhà văn tuổi Kỷ Sửu là Lâm Thị Mỹ Dạ, Mai Văn Hoan và tôi ba lẵng hoa thật đẹp, có băng-rôn đỏ chữ vàng vắt ngang “Mừng nhà văn tuổi Kỷ Sửu”. Hôm đó tôi xúc động như là mình được giải thưởng lớn. Cái lẵng hoa đó tôi đặt ở phòng khách gia đình suốt nửa tháng trời. Cũng nói thêm là Chi hội Nhà văn Việt Nam ở Huế này có từ 25 năm trước, qua nhiều đời Chủ tịch. Nhưng phải đến thời Nguyễn Khắc Phê, mới có họp hành, sinh hoạt thường xuyên hơn, mới có tiền làm phim chân dung nhà văn, có tiền để có “bữa ăn tươi” mỗi lần sinh hoạt, có cốc bia nâng lên hạ xuống.

 

4. Có người nhận xét rằng, Nguyễn Khắc Phê ít có những trang viết về yêu đương thật mùi mẫm. Tôi cũng thấy thế. Hẳn nhiên, không phải Vũ Trong Phụng phải là một tay mánh khoé cờ bạc sành sỏi mới viết được Cạm bẫy người, mà tất cả do nhà văn “bịa ra” trên cơ sở những thông tin xã hội mà nhà văn thu lượm được. Nhưng quả thực anh Phê ít bù khú bạn bè nên ít khi nghe được những chuyện “không thể tưởng tượng” về tình yêu và gường chiếu thời @. Tôi sống ở Huế với anh Phê hơn 30 năm nay, quả thực tôi thấy anh không khi nào “mắt tròn mắt dẹt” hay bốc đồng trước các người đẹp cả. Anh cũng không cặp kè với ai ngoài vợ mình. Tìm hiểu tôi thấy hình như đời anh chỉ “để mắt” hai người phụ nữ. Hồi trai tân, vừa làm việc vừa viết văn ở Sở giao thông Quảng Bình, anh quen thân Lâm Thị Mỹ Dạ. Lúc đó Dạ mới 19 tuổi, vừa chuyển về Hội Văn nghệ. Hình như hai người cũng có tìm hiểu, để ý tới nhau. Anh đã đội mũ lá tơi, đạp xe về Lộc Thuỷ quê Dạ để “chào” gia đình. Nhưng mẹ của Dạ khi biết được Nguyễn Khắc Phê cũng là con địa chủ thì sợ lắm. Vì Mỹ Dạ bố thì đi Nam, ông nội cũng là đại địa chủ, học văn giỏi nhất trường, thơ được giải thưởng của tỉnh cũng không được đi đại học. Bà Lý Thị Đấu (mẹ Mỹ Dạ) sinh thời, kể: “Lý lịch hai đứa xấu thế mà lấy nhau thì không cất đầu lên được mô, thôi đi các con ơi !“.

Đúng Cụ Nguyễn Khắc Niêm bị quy là địa chủ thật. Tháng 2/1942, ông từ quan về quê dạy học. Sau năm 1945, cụ tích cực tham gia công tác từ xã đến tỉnh. Ông tham gia Ban văn hóa tỉnh Hà Tĩnh, là Uỷ viên uỷ ban Liên Việt Liên Khu Tư, kiêm Trưởng ban Cứu trợ Thương binh Liên khu 4. Lưỡng quốc tướng quân Nguyễn Sơn thời ở Liên khu Tư thường hay đến đàm đạo văn chương chữ nghĩa với Cụ. Trong Cải cách ruộng đất cụ bị quy là địa chủ. Ông cụ bị bắt cùm, bị đấu tố rồi bị xử 20 năm tù - đó là nhờ họ còn “chiếu cố” có hai người con là Nguyễn Khắc Viện và chị Nguyễn Thị Phương Thảo có nhiều đóng góp cho kháng chiến (chị Thảo tham gia cách mạng từ hồi là nữ sinh Đồng Khánh Huế, nguyên là Uỷ viên Ban Thư ký Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Năm 1952, cụ được chính phủ cụ Hồ ở Việt Bắc đã mời một số nhân sĩ Nghệ Tĩnh - trong đó có cụ Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, khoa bảng yêu nước Triều Nguyễn - ra Việt Bắc trong dịp thống nhất Mặt trận Việt Minh - Liên Việt Trung ương. Giấy mời đã gửi về tận nhà, rất tiếc là Cụ yếu không đi được nên đã không thoát nạn CCRĐ 1954. Cụ đau nặng và mất trong khi bị giam. Nên chuyện Khắc Phê “đặt vấn đề” với Mỹ Dạ bị “stop” cũng chuyện thường tình. Cũng vì thế mà Nguyễn Khắc Phê là chiến sĩ xuất sắc trên mặt trận giao thông, được sở Giao thông Quảng Bình hai lần cử người về điều tra lý lịch để kết nạp đảng, nhưng cả hai lần địa phương đều ghi “là con địa chủ, quan lại đề nghị không kết nạp”. Mãi đến năm 1982, Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên cử người về thuyết phục, địa phương mới nhận xét để Khắc Phê được kết nạp đảng.

Người phụ nữ thứ hai mà Nguyễn Khắc Phê suốt đời chung thuỷ là chị Rạng (Hoàng Thị Rạng), một cô giáo trắng trẻo, xinh đẹp quê Trung Quán, xã Duy Ninh, đầu nguồn sông Nhật Lệ. Nguyễn Khắc Phê công tác cùng ngành giao thông với một người gần nhà chị Rạng, vì thế được manh mối gặp nhau. Hai người yêu nhau, rồi cưới nhau khi Khắc Phê đã 34 tuổi. Đám cưới tổ chức năm 1973, vào dịp Tết đầu tiên im tiếng bom Mỹ ở miền Bắc. Tiệc cưới chỉ có bánh kẹo, thuốc lá nhưng được một số nghệ sĩ trong Đội Văn công Trường Sơn đóng quân trong làng giúp vui. Từ đó, chị Rạng gánh vác mọi công việc gia đình, nuôi con, dạy con để chồng rảnh tay lo chuyện văn chương. Tất nhiên, bù lại công lao đó, chị đã có một người chồng biết viết văn giỏi, làm báo kiếm tiền chăm chỉ và quan trọng nhất là … không biết quan tâm đến bất cứ người phụ nữ nào, ngoài vợ. Thật đáng đồng tiền bát gạo.

 

5. Có người hỏi về cái tên PHÊ, Nguyễn Khắc Phê bộc bạch: ”Không có lý do gì đặc biệt cả. Thân phụ tôi là nhà nho nên tên các con trai trong nhà, khi viết chữ Hán, có bộ “thủ” đứng bên trái, cũng như tên của Cụ. Có thể Cụ xem đó là dấu tích “di truyền” về chữ, đồng thời nhắc nhở phải sống và tiến thân bằng chính “đôi tay” của mình (chữ Hán: “thủ” nghĩa là “tay”) chứ đừng ăn bám hay bợ đỡ ai. Và anh đã sống, đã viết, đã hành động đúng cái nết “di truyền chữ” ấy…

Ngô Minh

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác