Nguyễn Bính- Người chân đất đi vào tương lai (*)

Ngô Thảo
(Tổ Quốc) - Trẻ già, mất còn, sống chết là những đại lượng vô cùng quan trọng với một kiếp người. Nhưng thước đo trần thế ấy đã bao lần vô nghĩa trước những con người mà trong thời gian tồn tại hữu hạn đã kịp sáng tạo nên những giá trị không bị bào mòn, tàn héo, tan rã, phân hủy qua thời gian.

Hẳn là tạo hóa đã sinh ra cõi bất tử để làm nơi cư trú cho những ai đã sáng tạo được những giá trị văn hóa hữu thể và vô thể làm giàu có đời sống tinh thần của dân tộc và do thế cũng làm giàu có đời sống tinh thần của cộng đồng nhân loại. Những người như thế, bằng tác phẩm do mình sáng tạo, đã bắc được một chiếc cầu nối đời người hữu hạn vào dòng chảy vô hạn của lịch sử loài người.

Liên tưởng đó hiện rõ trong tôi khi đọc lại Nguyễn Bính trong dịp kỷ niệm ngày ông mất.

Nguyễn Bính- Người chân đất đi vào tương lai (*)  - ảnh 1

Nhà thơ Nguyễn Bính và chân dung ông qua nét vẽ của họa sĩ Tạ Tỵ (ảnh TL)

Ông lặng lẽ ra đi vào ngày tận cùng của năm Âm lịch ở một làng gần quê. Sau bốn lần dịch chuyển, hài cốt ông đã tạm nằm yên trong khu đất vườn nhà cũ ở thôn Thiên Vịnh, xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Lúc mất, còn hai năm nữa ông mới tới tuổi tri thiên mệnh. Mà vào thời điểm ấy, trong không gian lịch sử ấy, nào mấy ai biết được, rồi ra khi nắp quan tài đậy lại, thế gian sẽ định liệu về ông như thế nào!

Nhưng bạn đọc ông, đặc biệt là những người nông dân và có gốc nông dân vẫn nhớ từng bài thơ dài của ông. Các bà mẹ mượn thơ ông làm lời ru con, các chàng trai, cô gái nhờ thơ ông mà trao đổi tâm tình, những người trung niên ngâm ngợi thơ ông lúc vui, lúc buồn, đoàn tụ, biệt ly. Càng những năm mở cửa, văn hóa văn nghệ thế giới thâm nhập tới tận hang cùng ngõ hẻm, thơ văn Việt Nam hiện đại biến thái đến khó tin, thì với một bộ phận công chúng tìm về thơ Nguyễn Bính như là một thái độ lựa chọn con đường về nguồn cội. Cuộc đời, tác phẩm của ông được giới thiệu ngày càng rộng rãi qua các tuyển tập chung rồi lựa cọn theo chuyên đề, rồi hồi ức, hồi ký, giai thoại và đặc biệt là những bài hát…

Lý do gì làm cho cùng với thời gian, nhà thơ chân quê không giấu mình là người đi chân đất ấy cứ dập dềnh nổi trên mặt con nước lớn ròng của dư luận - phản ánh phần chìm trong lòng người.

Cắt nghĩa thật dễ mà cũng thật khó. Tôi chỉ muốn gợi đến một vài lý do.

Trước hết, ai cũng có thể thấy, trong dư luận chính thống, hầu như chưa bao giờ Nguyễn Bính được đánh giá chuẩn xác như tác phẩm ông vốn có, càng chưa bao giờ cao hơn cái đáng có.

Bởi thời nào cũng vậy thôi, có một khoảng cách giữa dư luận và thực tiễn đời sống. Dư luận là dựa trên tiêu chí xã hội, thị hiếu, thói quen thưởng thức của một lớp người, chủ yếu căn cứ trên văn bản. Trong khi với một đất nước hơn 80% là nông dân, càng những năm gần đây, tỉ lệ đó có xu hướng gia tăng, và trong đợt sóng cải cách giáo dục, số con cái nông dân được học lên cao ngày càng ít, số trở về làng cũ học cày ngày càng đông. Họ là lực lượng còn giữ trong lòng mình những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Chính là cái số đông to lớn đó, bằng bản năng, bằng sự từng trải giúp họ có một sự hiển minh thâm hậu mà hồn nhiên, đã truyền cho nhau (truyền miệng), giữ gìn, bảo vệ các giá trị văn hóa bằng ký ức, trong đó có những vần thơ hồn hậu, nồng nàn, thiết tha, da diết của Nguyễn Bính, như một bộ phận của văn học dân gian. Họ giữ gìn được ông là bởi thơ ông đã nói giùm họ, giúp họ, thay họ bao nhiêu cung bậc khác nhau của những trạng thái nhân thế và tình cảm luôn luôn xuất hiện trong đời sống của nông thôn và nông dân: tình quê, tình người, mẹ con, chị em, đôi lứa, biệt ly, ao ước, mộng mơ, nguyện cầu… theo lối cách riêng của người chân quê.

Có một điều thú vị: có thể tìm thấy cơ sở thực, cái cớ thực từ cuộc đời đã giúp (bắt) Nguyễn Bính làm nên từng bài thơ. Nhưng sẽ rất nhầm nếu từ bài thơ mà suy ra những chuyện thực. Quê ông là một làng nghèo ở vùng rốn chiêm trũng của châu thổ sông Hồng, với cây đa, bến nước, con đê, với hoa gạo, hoa xoan, giàn mướp và đặc biệt là rất nhiều cánh bướm; với một truyền thống văn hóa giàu bản sắc. Nhưng đó cũng là một làng quê lam lũ bùn đất, khốn khó đời người, tối tăm kiếp sống! Vậy mà, ông chỉ chắt lọc, giữ lại trong thơ hình bóng một làng quê trong veo, thanh khiết, không vẩn một dấu bụi:

Hội làng mở giữa mùa thu

Giời cao, gió cả, giăng như ban ngày

Đó là nét đặc biệt làm nên sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Bính. Bởi vì ngoại cảnh trong thơ ông không được thể hiện lối mô tả. Tất cả chỉ hiện ra qua lăng kính phản chiếu của một thứ tình người vốn nhiều cung bậc, trong nhiều tình thế. Tình điệu quê hương là nét làm say lòng người, đặc biệt trong thời điểm lại gạo về tình cảm hiện nay: Có những lớp người khi còn trẻ không đến với thơ ông, hoặc đến mà không cảm hết nên không thích, tới khi qua thời chuộng lạ, mới trở về thấy trong thơ ông những chắt lọc tình cảm sâu nặng một đời người.

Người Việt bây giờ sống xa xứ rất nhiều. Sống ở xứ người thì đã hẳn. Nhưng bao người sống trong nước mà không còn cư trú ở làng quê. Tất cả họ tìm thấy trong những vần thơ Nguyễn Bính tiếng lòng và sự đồng vọng những tình cảm thiêng liêng của họ.

Thơ Nguyễn Bính được cất giữ và tới với mỗi tấm lòng người Việt. Những năm đất nước mở cửa, ta đón nhận nhiều luồng văn hóa. Chuộng lạ là một tâm lý đáng yêu và dấu hiệu của sự trẻ trung, biết tiếp nhận. Nhưng sùng bái vô điều kiện cái lạ, đồng nhất nó với những giá trị văn hóa chân chính là biểu hiện của trình độ văn hóa… ngắn. Sau khi đã khát, đã thèm, đã no nê thứ văn hóa điện tử, bao người cảm thấy hụt hẫng vì không nhận ra nét riêng của mình.

Sự trở về nguồn cội, gìn giữ bản sắc không chỉ là chủ trương xuất phát từ một chính sách chính trị, mà thực sự là nhu cầu từ bên trong tinh thần, tình cảm, tâm linh, đạo lý của một lớp người thấm trong máu mình dòng văn hóa của dân tộc.Trong hành trình về nguồn ấy, họ tìm thấy ở cuộc đời và thơ Nguyễn Bính một bậc tiên khu đã chọn đúng đường, giữa buổi giao thời nhốn nháo, lúc đang còn ở độ tuổi đôi mươi.

Nguyễn Bính là nhà thơ thiên phú. Ông làm thơ rất dễ. Từ bé đã nổi tiếng thần đồng. Thần đồng Việt Nam thì nhiều, thời nào cũng có. Nhưng ít thần đồng còn giữ được sức sáng tạo khi trưởng thành. Nguyễn Bính thuộc số ít ấy. Hình như ông chỉ được một giải thưởng quan trọng thuở đầu đời. Và cho đến nay, mất đã ba mươi năm vẫn chưa ai tính tặng giải thưởng gì cho ông.

Chính ông, theo hồi ức bạn bè, cũng không đánh giá mình cao. Ngoài vài bài ông cho là hay, còn thì đều chưa có bài nào toàn bích. Thế giới quả vẫn có những con người toàn thiện và những vật phẩm toàn bích! Nhưng có lẽ những thứ đó để đặt lên bàn thờ. Còn thế gian vẫn sống với những con người chưa toàn thiện và phát triển trong quá trình sử dụng những vật phẩm chưa toàn bích!

Hàng ngàn bài thơ Nguyễn Bính, tìm vài bài toàn bích chắc không khó. Nhưng công chúng yêu thơ, thuộc lòng thơ Nguyễn Bính là cả những bài chưa toàn bích, đầy phong vị dân gian mà vẫn có nét bác học; dễ dàng, có cả dễ dãi mà vẫn trau chuốt công phu; không giấu đói nghèo mà vãn ra chiều phong lưu, hào hoa… Đó là một người nông dân đi vào làng thơ đương đại mà không phải thay đổi trang phục, không hóa trang, không đổi lốt, không thay hình đổi dạng.

Sự tự tin của ông mang phẩm chất của lớp người biết mình ở một vị thế không cao trong xã hội nhưng xã hội không thể thiếu họ, nhất là khi hết gạo

*

Nói Nguyễn Bính là nhà thơ chân quê còn ở khía cạnh này: Có những tác giả mà thơ họ là dòng suối trong in bóng cánh đẹp đôi bờ. Có người là thác lớn gào thét dữ dội, bụi nước dưới ánh mặt trời tạo nên cầu vồng bẩy sắc! Có những nhà thơ mà tác phẩm đổi màu kịp thời theo cảnh quan, theo thời tiết. Sinh ra ở châu thổ sông Hồng, ông từng sống nhiều năm ở châu thổ sông Cửu Long:

Sống là sống để mà đi

Con tàu bạn hữu, chuyến xe nhân tình

(Nửa đêm nghe tiếng con tàu)

Chất phù sa từ hai con sông ấy chất đầy trong dòng sông thơ Nguyễn Bính, cho nên những ai từng đón nguồn nước từ dòng sông thơ ông tưới lên cánh đồng của tâm hồn mình đều sẽ nhận thấy những hạt giống tình yêu có sẵn trong mỗi người: tình quê, tình đời, tình người - sẽ có dịp nảy lộc, đâm chồi, ra hoa, kết trái, chắc khỏe và mang đậm một sắc quê khó lẫn.

Vượt qua bao ngăn cách một thời nô lệ, sự xê dịch khó khăn, nhọc nhằn, mạo hiểm của bao nhiêu văn nhân thi sĩ trước cách mạng, trên khắp mọi vùng đất nước đã tạo nên một mối tình nghệ sĩ thân thiết và tác phẩm của họ đã thêu hoa, dệt gấm trên tấm bản đồ tình yêu một nước Việt Nam thống nhất, một dự trữ sức mạnh tinh thần cho cuộc đấu tranh chống chia cắt sau này.

Nguyễn Bính đã là một người tích cực trong số họ. Sự có mặt của ông trong Nam phong tiểu các của hai thi sĩ Đông Hồ- Mộng Tuyết tận Hà Tiên trước cách mạng, rồi chín năm lăn lộn trong bưng biền, làm văn nghệ kháng chiến, bỏ ngoài tai mọi lời chào mời, chèo kéo với những hứa hẹn một cuộc sống khá giả khi vào Thành; sự trở lại đất Bắc trong đạo quân tập kết… đã tạo nên một biểu tượng nhà thơ của đất nước thống nhất và thơ ông đã làm cháy sáng thiết tha tình cảm ấy trong không chỉ một thế hệ người cầm súng.

Người ta nói, một trong những đặc điểm của thiên tài là họ còn sống mãi, làm việc mãi cho tương lai.

Mới chỉ thấy có một nhà văn Ngọc Giao trong hồi ký gọi ông bằng chữ ấy. Nhưng bằng vào cuộc sống và những gì ông đã làm được- chủ yếu là thơ- vì ông không chỉ sáng tác thơ- người thi sĩ đồng quê với đôi chân trần đã dẫm lội trên hai châu thổ lớn nhất, giàu nhất mà cũng khổ nhất của hai đầu đất nước, chắc sẽ còn đi mãi vào tương lai; bởi thơ ông đã vượt qua cái hữu hạn một thời đề nói được cái vô hạn của lịch sử, từ những gì tự nhiên, hồn nhiên mà thẳm sâu nhất của con người Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ trước, ông đã tự biết mình:

Người giam chí lớn vòng cơm áo

Ta trói thân vào nợ nước mây.

(Hành phương Nam)

 

------------------

(*) Bài trích trong tập Tiểu luận và phê bình văn học của tác giả Ngô Thảo

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác