Người thợ cày trên cánh đồng cổ tích

Đỗ Trọng Khơi

Với nhà văn Trần Văn Thước, con người đời thường và con người nghệ thuật không hề có ranh giới. Tôi sẽ không bao giờ quên lần đầu tiên gặp ông.

Lần ấy nhờ nghĩa cử của hai nhà văn là Vũ Hữu Sự và Bùi Hoàng Tám đã thu xếp một chuyến xe đưa tôi xuống thăm ông. Xe đậu trước cửa nhà, cũng là cửa cái quán hàng tạp hóa của ông. Nhà văn Vũ Hữu Sự vào trước thông báo có tôi đến chơi. Ông Bùi Hoàng Tám còn đương xoay xỏa đưa tôi ra khỏi xe, thì đã nghe tiếng quá quớ từ nhà gọi ra: "Khơi! Khơi đấy hả Khơi!", thứ tiếng nói vồn vã xởi lởi đấy thổ âm của người miền biển. Gặp tôi mắt ông rân rấn nước. Những giọt nước mắt, cả tiếng thổn thức khóc trên điện thoại về sau đôi lần tôi còn được ông dành cho. Ông là người của chân quê, chân thực và vô cùng dễ xúc động. Về sau khi làm nghiên cứu tác phẩm tôi thêm hiểu nguồn mạch văn chương của ông được nuôi từ chính cái tình chân quê rất đậm chất "nữ tính" sâu xa gốc rễ ấy. Trời còn trao cho Trần Văn Thước cái tiếng cười "khinh khích", nhẹ, ròn, hóm. Đó là thứ tiếng cười quê của chú Tễu anh Bờm biết mượn cái nôm na, nhộn nhạo mà ném cái phẫn, cái bi, cái hài tên mặt đời.

Trần Văn Thước nói vui, ông là "thợ cày" trên cánh đồng văn chương chữ nghĩa. Với khoảng 30 năm làm văn, ông đã viết cả ngàn trang sách. Hiển nhiên, khó có thể cả ngàn trang sách đều thuộc loại "ngoại hạng" cả. Có thô có tinh. Quả văn ông còn rơi rớt những trang thô mộc, còn ở dạng vật liệu, song những trang hay, văn viết đẹp, thăng hoa cũng không ít. Ngòi bút ông Thước thuộc loại sung sức nhất nhì ở Thái Bình. Có năm ông viết đôi chục truyện ngắn. Mà cái gọi là truyện ngắn của ông cũng không thể nào "ngắn" được, xoàng cũng phải mười lăm hai mươi trang in. Nhiều khi trong đêm nhìn những tảng mây đen, mây trắng vần vũ thi nhau bay qua mảnh trăng liềm mảnh mai, yếu ớt nó cứ gây cho tôi liên hệ mảnh trăng yếu bấy treo lủng lẳng mạn trời kia, giống tấm thân bệnh trọng ông Thước treo trên đôi nạng gỗ với lô xích xông những dây dợ chằng nẹp quanh mình; còn những tảng mây đen, trắng xô đẩy, vần vũ chèn ép sức sáng của mảnh trăng kia là hệ thống tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết... cũng của ông. Một bức tranh tương phản đầy đe dọa. Nó có thể cuốn veo cái thân tàn lực kiệt mảnh trăng - đời ông vào sâu thẳm tối đen mưa gió bất cứ lúc nào. Nhưng hân hoan thay, mảnh trăng liềm yếu bấy - Trần Văn Thước: "... Mồng một lưỡi trai/ Mồng hai lá lúa/ Mồng ba câu liêm/ Mồng bốn...", sinh động và thiết thực ấy vẫn còn âm vang, tỏa thứ ánh chiếu "thợ cày" của mình cho bao độ chiêm mùa vàng mẩy.

Nhà văn Trần Văn Thước đã cho in 5 tập truyện ngắn - với hơn trăm truyện - cùng hai tiểu thuyết (tập truyện thứ 6, NXB Công an sắp ấn hành). Không chỉ có sức nặng số lượng, mà trong số truyện ấy có tới phần mười số truyện đã được tuyển vào các tuyển tập do các Nxb hàng đầu tuyển chọn. Và có những truyện đã đoạt giải thưởng của các tờ báo văn chương uy tín như báo Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Tiền phong... Nhiều lúc ngắm chồng sách cao, dầy cộp của ông trên giá sách khiến tôi bối rối. Tôi cứ lẩn thẩn, bần thần tự hỏi, nếu không có cú ngã định mệnh đốn quỵ tấm thân khỏe mạnh, dẻo dai của anh nông dân - công nhân Trần Văn Thước quen chịu thương cúi khó trong lao động, trong chức phận thân cò lặn lội kiếm gạo nuôi con, thì trên giá sách nhà tôi cái ô cao ngất, nặng trĩu kia có ngự lãm tên tuổi: Nhà văn Trần Văn Thước, không nhỉ? "Khó đấy!" Có tiếng đâu đó bảo vậy. Ừ thì "cơm áo gạo tiền" vẫn cứ là cá gánh nặng trĩu trịt trên đôi vai nhân thế này. Bao người đã phải ngã gục vì sức nặng của nó. Gục ngã không chỉ vì chữ "thiếu" mà cả vì chữ "thừa" nữa. Cái cảnh vàng son, tiền chum thóc vựa, nhàn và sướng, chẳng tít thò lò ru ngủ vùi ngủ lú bao người đó sao. Nhàn và sướng - ông Thước và tôi nữa, nếu trời cho sức vóc mạnh khỏe thì cái ngưỡng vàng son ấy biết đâu chẳng sa vào. Dễ lắm! Vả lại, danh tiền của hay danh chữ nghĩa cái náo hư ảo, phù du vô nghĩa hơn cái nào? Để trả lời chân xác được câu hỏi này tùy ở quan niệm sống và nó cần một tình yêu lớn, một tri thức lớn. Điều nhẹ nhàng hơn tôi thấy, cảnh tiền chum thóc vựa dễ theo hơn, dễ tìm sự nương thân hơn. Còn thực tế cuộc sống bây giờ, khỏi cần phải lý sự lôi thôi cho ông Thước (và tôi), viết văn là một cách sống! Là cách duy nhất ông có thể còn tận dụng để xác định vị trí tồn tại của đời mình trước bàn dân thiến hạ. Cho dù, cái "vị trí tồn tại", nếu có được, nó vẫn chưa thoát bao xa sự phù du, nó vẫn khuất sâu ở "Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê" chăng nữa thì ông vẫn cứ còn phải viết. Nhà văn viết văn cũng là cách cầu danh vọng ự? Không ít người nghĩ vậy và cũng không ít người cầu mong vậy. Danh vọng là thứ vĩ âm, tạp âm có trong mỗi từng câu chữ ở cõi người này. Kể cả chữ Khổ, chữ Chết. Cái Danh, nếu có thể đạt được, là cái Danh chữ nhà văn chân chính cần phải có để dâng tặng và để tôn vinh một tinh thần sống. Gần Trần Văn Thước, chính cuộc sống của ông đã cho tôi nhận biết này.

Trong cuộc sống, trước bao việc dễ ganh đua hơn kém, tôi thường được nghe ông Thước nói qua điện thoại: "Tớ thế nào cũng được!". Văn nghệ Thái Bình vừa cho ra mắt tập Kỷ yếu Nhà văn Việt Nam - người Thái Bình. Tập sách khá bề thế, sang trọng. Trong tập sách này, phần tác giả tác phẩm dành cho Trần Văn Thước tất nhiên, do chính ông tự lựa chọn, với số trang ít nhất. Tôi lẩn thẩn, so bì, đếm số trang dành cho mình thì thấy, số trang tác giả tác phẩm của tôi nhiều đúng gấp đôi ông. "Tớ thế nào cũng được?" Sao với ông câu đó nó vang lên bình dị, nhẹ nhàng đến vậy. Ông Thước ạ, với bao người, không dễ nói được câu rất nhà quê ấy đâu. Nhà thơ lớn người Nga Paxtacnac đã viết: “Sống bên một trái tim trong sạch, dịu dàng/ Thì mọi việc bỗng nhẹ nhàng biết mấy...". Đọc những câu thơ này tôi thường liên hệ tâm hồn ở một số rất ít người mà tôi vinh hạnh được quen biết. Trong số rất ít người đó, tất nhiên rồi, có ông. Lúc gặp gỡ ông, hay khi ở xa nghĩ tới ông lòng tôi bao giờ cũng tìm được niềm ấm áp, trong lành. Đó cũng là niềm ấm áp, trong lành khi bạn đọc gặp cái làng quê cố tích trong văn ông. Cũng vì vậy thêm hiểu tính nguồn gốc, trong các sáng tác văn ông, thường trong nó đều lút la những suy nghiệm, bài học về đạo lý ở đời.

Đa số truyện ngắn Trần Văn Thước đều lấy không gian làng quê làm bối cảnh. Một cái làng trong tính bảo lưu giá trị truyền thống nguyên sơ của nó. Đó là cái làng từa tựa trong ca dao cổ tích, lấy nền tảng đạo đức và đem đạo đức ra để gánh đỡ mọi vấn đề cuộc sống. Trong ngôi làng cho ý nghĩa không gian, thời gian nghệ thuật truyện Trần Văn Thước nghiêng về biểu hiện tâm lý. Đó là một không - thời gian đơn tuyến, đơn tính, không dễ chấp nhận những chuyển động ổn ào, thô bạo của hiện thực đời sống đến từ nhiều phía, với nhiều cung bậc. Không - thời gian nghệ thuật truyện Trần Văn Thước được cấu tạo trên chữ Tĩnh: Nó phù hợp với cảnh yên ả, ổn định và được kết nôi sâu bền với quá khứ để ở đó nuôi giấc mơ cổ tích về tính đạo lý, đạo đức cho muôn đời. Cái thiện cái ác phi lý hay hợp lý, sự đổi thay cũ, mới... chủ yếu đều được giải quyết trên cơ sở các quan niệm, quy ước của lăng kính đạo lý - làng. Kiểu đạo đức, đạo lý: cơ sở mang tiếng nói tiên quyết xác định các giá trị cuộc sống. Đó là mô hình làng quê trong không gian nghệ thuật truyện Trần Văn Thước. Và có lẽ, đây cũng là nguyên tắc bất biến, bất thành văn, song nó được duy trì một cách cao ngạo của lệ luật qua bàn tay nâng đỡ của một cái Đẹp dậy mùi thơm nhang khói linh thiêng, đậm màu sắc tôn giáo của làng quê Việt Nam. Nhà văn Trần Văn Thước nuôi không gian nghệ thuật này một cách đầy ý chí, ông luôn tìm cách gìn giữ, cố thủ trong nó, cho dù không ít lần nó đã gây hạn chế sức khái quát, tính đa tầng, đa nghĩa văn ông. Và mặc dù chung sống dưới bóng che, sức chế ngự của không gian, thời gian văn hóa, đạo đức làng quê truyền thống ấy, song là một nhà văn của thơi hiện đại, Trần Văn Thước không thể không trao thân sống, viết về số phận con người cộng đồng quanh mình, chung lo nỗi niềm nhân thế với mình. Viết về đời sống hiện đại đang diễn ra với bao sự kiện, quan niệm giá trị mới lạ như những ngày tháng này trong hoàn cảnh làm việc như ông quả không dễ dàng chút nào. Ấy vậy mà ông viết khỏe. Những nhân vật tuổi trẻ, hiện đại bước vào văn ông một cách do dự, nghi hồ. Họ dư tình cảm, đạo lý mà lại chưa thực sự đủ mạnh về lý trí, tư tưởng. Vì vậy, qua các trang văn đó cho thấy, cơ bản các nhân vật của Trần Văn Thước sống với thời đại như một cuộc "cưỡng duyên", họ bị bắt buộc phải trao thân cho hiện thực sống, bởi họ không thể chối từ. Xây dựng loại nhân vật này là ý đồ nghệ thuật của ông chăng? Qua đây soi chiếu vào đời sống các nhân vật truyện Trần Văn Thước thấy hầu hết họ đều có một nội lực tinh thần, tình cảm dồi dào, do họ có cả cội nguồn nghìn năm làm giá đỡ.

Cái "nguồn cội nghìn năm", nghĩa là giá trị đạo đức, đạo lý, tinh thần sống của người làng quê, nó tựa như cây đa cổ thụ toả chiếc bóng thiêng ở đầu làng. Và cái "bóng thiêng" này bao năm qua đã tỏa bóng mát lành cho ngôi làng - văn Trần Văn Thước khiến cho bao loại cây cỏ khác cũng trở nên có sức mê quyến lạ lùng. Như cây vọng cách ở mé vườn cũng biết nuôi nỗi nhớ trong lòng người... Nói chung đạo đức - đạo lý trong truyện Trần Văn Thước cũng như trong đời sống làng quê Việt Nam bao đời không chỉ là quy ước quan niệm mà nó luôn trong khả năng trở thành, trưởng thành nên thứ sức mạnh luật pháp, thiết chế can thiệp, sắp đặt nhịp điệu thời gian xã hội - con người. Và có khi ngay cả những thói quen khi nó được bảo trợ bằng đạo đức thì gần như nó được thiêng hoá trong con mắt người làng. Và hiển nhiên, những thói quen - thiêng hóa này trở nên một cái ngưỡng cửa của ngôi nhà thần thánh khó bước được qua. Nhà văn Trần Văn Thước là một vị chủ nhân chung thủy, có uy tín của ngôi nhà này. Do vậy, khi bước vào ngôi nhà - văn Trần Văn Thước người đọc gặp bao sự thân thuộc, tin cậy. Này là tập tục, phong tục, nếp sinh hoạt vẫn còn kia; phương thức canh tác, phương tiện lao động cũng vẫn còn đó; này là con trâu, cái cày chìa vôi, và nước, phân, cần, giống xoay vần theo cái nắng cơn mưa, bờ vùng bờ thửa... Và kia là phương tiện kiếm sống buổi nông nhàn, cái te, cái vó; kia nữa, Con mèo lông gio, con gà Tráng sỹ, viên đá Thạch linh... cùng với bao loài hoa cỏ... Quả thực sự gặp gỡ với người với vật với thiên nhiên cây cỏ trong không gian làng quê Trần Văn Thước thân thuộc biết nhường nào. Trần Văn Thước đã ghi được không ít thành công trong việc bảo lưu các giá trị truyền thống cho ngôi làng, tình cảm trong văn ông hướng con người về với cội nguồn trong sạch, và nhắc nhở người ta cách cư xử từ lời ăn tiếng nói trong cuộc sống thường nhật. Tư cách Nhà văn ở đây như ông thủ từ gìn giữ nhang khói cho ngôi làng, như một người bảo mẫu biết hướng thiện. Thành quả đó là rất đáng trân trọng.

Câu "văn mình" vẫn là cái ngưỡng không dễ vượt qua. Không biết nếu nói về "căn bệnh" văn ông Trần Văn Thước thì ông sẽ phản ứng ra sao? Tôi thì tôi chắc ông Thước sẽ cười "khinh khích", rít một điếu thuốc lào lõng lạc, rồi bảo, "Tớ là anh thợ cày. Giời bắt tội làm văn, tránh sao được điểm non yếu...". Quả thực, có lần trong bài tiểu luận phê bình, tôi đã thử bàn với ông về nghệ thuật tiểu thuyết, truyện ngắn. Cũng là lạm bàn thăm dò xem thái độ ông. Bài viết nặng về hình thức, lý thuyết đó, thực ra nó cần cho chính tôi, vì tôi cũng đang tập tọng viết truyện ngắn. Nhưng không hiểu sao lại nghĩ nó cần cho cả ông - một tác giả văn xuôi nhiều thành tựu nên mới viết ra ông đọc."... Trong nghệ thuật truyện ngắn, tiểu thuyết việc sử dụng chi tiết đời sống đúng như trong đời thực, thì cái "sự thực đúng như" đó vẫn phải thành ra một chi tiết, tình huống nghệ thật. Nghĩa là, nó bắt buộc phục vụ cho việc xây dựng nhân vật, giải quyết các vấn đề nhân tính, tư tưởng thời đại không phải như thói thường đã biết, đã là thế. Bởi nếu chỉ dừng ở mức độ như thói thường đã biết, hiển nhiên Nhà văn đã đánh mất khả năng khám phá, sáng tạo. Sáng tạo ra cái mới, khám phá ra cái vốn có nhưng nó chưa được biết tới như vậy. Đó là nhiệm vụ của nhà văn. Chọn chi tiết, tình huống đưa vào tác phẩm mà chưa vượt qua những yêu, ghét lý, quan niệm của lối sống thường nhật, thì khi ấy ngôn ngữ văn chương sẽ bị ngôn ngữ đời thường kéo xuống làm tha hóa. Trong khi ngôn ngữ văn chương đòi hỏi tuân thủ nhất quán với kết cấu hệ thống hình tượng, đòi hỏi được thẩm mỹ hóa. Không thoả mãn được triệt để đòi hỏi nghệ thuật này thì các tác phẩm văn chương ít nhiều còn chịu dừng lại ở mức thỏa mãn các nhu cầu tự kỷ cá nhân, hay của một nhóm người nào đó mà thôi...". Sau bài viết đó, tôi thấy ông già im lặng. Ngỡ ông đã bỏ ngoài tai, lờ lớ lơ đi. Gần năm sau, khi cái truyện ngắn Mưa nhuần của ông đăng trên Văn nghệ, lại được một Nxb tuyển vào tập Truyện ngắn hay, thì ông mới Alô cho tôi, bảo "Tớ đã nghe lời chú khi viết truyện này đấy. Có khác chứ hỉ...?" Mừng lắm. Và tôi cũng muốn nói với ông rằng, cách tạo hình ảnh ngôn ngữ trong số truyện, Mặt trời 19 tuổi, Cơn gió thoảng qua, Tháng ba thươ'ng mến... là ông đã có được từ ngày đầu cầm bút, là những trang viết tiếp rất giàu chất thơ: Những trang văn như thế, dễ đâu có được.

Điều đáng nói thêm, sau những tràng văn đẹp của ông là những thân phận gia cảnh trắc trở, thậm chí đau buồn, gian khó của cảnh đời nơi thôn xóm. Chính bởi vậy cái đẹp ngôn ngữ văn Trần Văn Thước mang một giấc mơ giải thoát, như một đôi cánh cổ tích an ủi con người dù trong hoàn cảnh chiến tranh giặc giã gian khó khổ nghèo, những lệch nghiêng thế cuộc, băng hoại tinh thần... Những dòng ngôn ngữ văn ông như những hạt giống vàng mẩy gieo nơi tâm hồn quê, cho hứa hẹn tin yêu vào điều ấm no hạnh phúc.

Ở Thái Bình, bạn văn cùng những người quê trìu mến gọi nhà văn Trần Văn Thước là: Người thợ cày trên cánh đồng cổ tích.

Viết văn là một việc đòi hỏi rất nhiều trí lực. Nhà văn đích thực dù gắng gỏi, nỗ lực đến đâu cũng không dán nghĩ là đủ, là đạt... Tôi nghĩ đấy là nghiệp nghề văn chương.

Cuộc sống phế thải nghề này, phát minh nghề nọ, trăm thứ máy móc, hội đoàn... nay trọng mai thường. Nghề viết văn thật thủ công, thật cá thể mà bền như trái đất vậy.

Trần Văn Thước

(Văn nghệ)


-------------------------------------

Nhà văn Trần Văn Thước, sinh: 15 tháng 4 năm 1954. Quê quán Vũ Lăng, Tiền Hải, Thái Bình.

* Tác phẩm đã in: Tháng ba thương mến (truyện ngắn, 1997); Truyện ngắn Trần Văn Thước (tập truyện ngắn, 1998); Ông già và đấu sỹ (truyện ngắn, 1999); Miền ký ức (truyện ngắn, 1999); Mùa yêu (tiểu thuyết, 2001); Bờ sông vẫn gió (tập truyện ngắn, 2003); Trai làng (tiểu thuyết, 2004); Bến xưa (tập truyện ngắn, 2006).

* Giải thưởng văn học: Giải thưởng văn học thể loại truyện ngắn - UBTQ Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Giải thưởng Văn học Lê Quý Đôn tỉnh Thái Bình 1985-1990 loại A và nhiều giải thưởng văn học khác.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác