Người thế ấy, thơ thế ấy

Vân Long

Như một sự xếp đặt thiên mệnh, một bản mệnh trời sinh của nhà thơ, Ngô Quân Miện bắt đầu gây sự chú ý của công luận bằng một bài thơ 4 câu được giải Ba báo Văn Nghệ (1960-1061): Giữa cuộc hành trình 6 thập kỷ gắn bó với thơ, dường như ông lên tới đỉnh thơ của mình ở bài tứ tuyệt được truyền tụng và có mặt ở nhiều Tuyển tập, có thể nói đây là bài thơ tiêu biểu nhất cho tâm hồn và cách sống của nhà thơ Ngô Quân Miện:

Mây vừa qua, trăng đã thu

Tận cùng xa thẳm của hư vô

Cánh chim vội thế không hay biết

Trái đất sau lưng đã trở mùa

(Cánh chim)

Bài thơ đã đạt tới cõi phiêu diêu của phong vị thơ Đường. Sống thầm lặng để nhìn ra cái vĩ mô: sự trở mùa của trời đất, nhẹ nhàng phê phán cách sống tất bật của nhân thế…

Tôi từng viết tặng ông cụm từ ung dung sống - nhẩn nha thơ, nay ngẫm lại càng thấy đúng như vậy! Ông cứ ung dung, điềm tĩnh thẩm định cuộc đời, nhẩn nha mà viết, chẳng đi đâu mà vội, chả vì cái gì, ngoài nhu cầu viết sao cho tinh nhẹ, trong trẻo Mảnh trăng vừa thoáng hiện - Màu mây đã nhạt nhòa (Không đề) Mùa thu ắng lặng như không tiếng - Chỉ với hành trang của sắc màu… Nhịp điệu, màu sắc thơ ông đồng dạng, đồng hành với nhịp điệu sống. Những năm thơ xuất bản nhỏ giọt, tính ra mỗi năm chỉ xuất bản mươi, mười lăm tập là cùng, các nhà thơ diện Thơ Mới, đang còn sung sức Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Anh Thơ... cứ vài năm ra một tập, rồi lớp nhà thơ trong kháng chiến chống Pháp đông đảo, với chính sách ưu đãi…, tài thơ như Quang Dũng, Trần Lê Văn cũng phải in ghép đôi (trước khi dính Nhân Văn), khiến nhiều tập thơ rất khá của lớp trẻ, cuối cùng phải ghép ba bốn tác giả một tập sau  một, hai thập kỷ đợi chờ, như Phạm Ngọc Cảnh, Ngô Văn Phú, Hoài Anh… Chúng tôi lớp sau Hoà bình 1954 và thế hệ đầu chống Mỹ rút ra trải nghiệm: Muốn xuất bản được thơ lúc ấy, có lực (thơ hay) chưa đủ, phải có thế nữa, nhà thơ Ngô Quân Miện lâu năm chủ trì một tờ báo từ kháng chiến về, khi đầu báo in thơ chỉ đếm trên đầu ngón tay, những nhà thơ đang cầm quyền xuất bản cũng thường xuyên nhờ cửa báo Độc Lập để in thơ, thì mặc nhiên Ngô Quân Miện được nể vì, nghĩa là ông cũng vừa có lực, vừa có thế. Chịu khó nhắc một câu về tập thơ đang xếp hàng vài chục năm, chắc ông sẽ được in thơ sớm hơn. Nhưng ông khí khái, có thể làm một Mạnh Thường Quân tinh thần với những cây bút trẻ, nhưng không muốn một sự gửi gắm nhờ cậy nào, dường như ông thấy rõ tấm chăn xuất bản ngày ấy, kích cỡ chỉ có thế, mình kéo mạnh tay về phía mình một chút, người khác sẽ hở sườn, hãy để cho các nhà thơ bạn mình đang điều hành công việc, sống nguyên vẹn bằng lòng trung thực, lẽ công bằng. Khốn nỗi, làm sao có lòng trung thực và lẽ công bằng tuyệt đối! Khi sức ép và sự cả nể dễ làm lệch cán cân! Sống gần ông lâu năm, tôi biết điều đó, 40 năm làm thơ mới in riêng tập thơ đầu Bóng Núi (1993), trước đó là một tập ghép với một bạn thơ trẻ chưa có tiếng tăm gì ở một nhà xuất bản không chuyên về văn học!  Sự ung dung, không nôn nóng vội vã, cả trong sự nghiệp chính của đời mình, đó mới là Ngô Quân Miện! Sau Bóng núiNét hoa văn (1999), tôi ngỡ ông dừng lại ở Tuyển tập Ngô Quân Miện (2003)…

Nhưng… tập thơ mới bao gồm 64 bài thơ 4 câu, ông lấy tên là Đàn bốn dây (NXB Hội Nhà văn quý IV/ 2007) như để chốt lại bản mệnh thơ 4 câu của mình. “Bốn dây nhỏ máu năm đầu ngón tay” (Nguyễn Du), ông dùng để cảm ứng với mọi mưa nắng, bão giông của một đời người. Tập thơ mà ông đinh ninh là tập cuối của mình, bởi sang năm 2008 này, ông đã vào tuổi 84, sức khoẻ đã suy giảm nhiều, bệnh giãn tĩnh mạch thường xuất hiện ở đôi chân, không cho phép ông có mặt trong các cuộc họp  lớn nhỏ với bạn bè, mà ông thường được coi như  người bạn chân thành nhất của nhiều thế hệ cầm bút (khoảng 4 thập kỷ trong Ban biên tập báo Độc Lập, có trang Văn nghệ truyền thống từng in bài thơ đầu tiên của các nhà thơ  Bùi Minh Quốc, Nguyễn Bùi Vợi, Thúc Hà, Quang Huy…thế hệ sau là những thơ, truỵện giai đoạn đầu của Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Hồ Anh Thái, Nguyễn thị Thu Huệ…).

Thèm bạn, nhớ bạn, ông đã có sáng kiến dùng tập thơ mới xuất bản làm món… dụ bạn đến thăm. Tôi định mang hộ ông tập thơ tới bất cứ ai ông định tặng. Ông hồn hậu: “Thôi! Chỉ cần ông báo tin hộ, mời các bạn đến lấy sách tặng, để mình được trò chuyện với các bạn!”. Hình như tôi còn đọc được điều ông chưa nói ra “…để xem thơ mình còn cần cho ai nữa không, hay mình là một cái gì sắp tuột khỏi tầm nhìn của các bạn!...”. Nói thản nhiên là chưa đúng, nhưng tôi biết ông rất bình tĩnh đón nhận cái giờ phút gặp lại các bạn bè đồng lứa đã ra đi trước, gần gũi nhất là hai người bạn chí cốt Quang Dũng, Trần Lê Văn, tình bạn giữa ba ông khiến thế giới bên kia không còn lạnh lẽo, nếu có một thế giới như vậy!

Có thể nói hành trang của đời ông đã đưa ông đến với cây đàn bản mệnh này, như đáp ứng lời nhà thơ Xuân Diệu từng nhắn nhủ lớp hậu sinh: “Anh là kèn thì hãy thổi, là trống thì hãy gõ”: 

Là con một ông đồ nho dự khoa thi Hương cuối cùng của triều Nguyễn, ngay từ nhỏ, ông đã thuộc lầu Chinh phụ ngâm bằng âm Hán. Là hàng xóm sát vách của thi sĩ lớn Tản Đà, ông từng nghe giọng ngâm cao hứng của cụ, khi mình còn là một chú bé mê đánh khăng, đánh đáo hơn ham học, tại làng quê Khê Thượng dưới bóng mây, dáng núi Ba Vì. Thơ tứ tuyệt của ông sau này man mác phong vị Đường thi và đoản thi thời Lý Trần mà không cổ, nhờ ông sớm tiếp xúc với Tây học. Có thể nói hai nền văn hoá Đông Tây đã trung hoà trong tâm hồn ông.

Nhà thơ Trần Lê Văn đã phát hiện ra hai yếu tố cực già và cực trẻ liên kết với nhau qua hai câu thơ này của Ngô quân:

Tay ôm đại thụ hồn nguyên thủy

Mắt ngó mầm xanh mắt trẻ thơ

(Vào Cúc Phương)

Bài thơ Lán Nà Lừa mở đầu tập, cũng từ một địa điểm hạn hẹp mà tứ thơ mở rộng khôn cùng:

Lán nhỏ sơ khai nghìn trận thế

Tre nứa vươn lên vút đại ngàn

Như một người sành buông bắt thanh bổng, giọng trầm, ông trở lại ngay sự dung dị để tránh phát triển đơn điệu, phạm lỗi khoa trương:

Thấp thoáng sau cây tà áo Bác

Ấm nồng hơi thở giữa nhân gian

Sau bài thơ hướng ngoại Tặng anh công nhân xây dựng, dần dần ông nhận ra thứ vũ khí ngắn, cận chiến này phù hợp với phân tích tâm trạng hơn là ngợi ca. Ông chân thành đánh giá Với thơ mình:

Chưa rộ mùa hương đã cuối mùa

Dám đâu còn mất với sau xưa

Xin làm hạt phấn hoa trăn trở

Vi lượng trong vô lượng mịt mờ

Với người khác, trong sự khiêm tốn vẫn có thể nhận ra nét kiêu ngầm, Ngô quân thành thật nhất ở câu đầu, tự thấy tài mình chưa có giai đọan nào nổi trội mà tuổi đã xế chiều. Câu thơ hàm cả ý xót cuộc đời quá ngắn!

Tâm trạng riêng như vậy, lại gặp một chiều đông giá rét, huống gì tác giả chẳng có lúc:  

Chiều rơi lác đác tâm tư

Rét như đang rét, buồn như đang buồn

Nếu tâm sự cứ một chiều đi xuống như vậy, chắc chả còn gì đáng nói. Ngô quân đã cho ta giây phút loé sáng bất ngờ:

Một màu lá bỗng xanh non

Tìm con mắt lá, gặp con mắt người 

(Rét lộc)

Đời sống càng được cải thiện, càng nuôi lớn những tham vọng, gây mầm cho cái Ác, khiến kẻ thức giả đôi lúc muốn thiền lặng cũng không xong “Anh ngồi thiền định tìm vô thức/ Mắt nhắm đêm sâu dội tiếng đời”.

Sau hai câu lấy đà, tác giả tung ra độc chiêu “Ngắn lại câu thơ, dài sợi tóc” rồi mới lý giải “Kiến đốt, gai châm giữa chiếu ngồi”. (Thế thì còn thiền làm sao được!) Thơ vốn đã cần hàm xúc, thơ ngắn càng cần, một câu gây ấn tượng cho người đọc không thể quên, bằng hàng chục câu thơ hàm xúc khác. Những câu như Tìm con mắt lá, gặp con mắt người hoặc Ngắn lại câu thơ, dài sợi tóc của Ngô quân gợi tôi nhớ đến câu độc chiêu để đời của thi sĩ Bùi Giáng Còn hai con mắt khóc người một con. Nỗi buồn nhân thế đã được chưng cất thành cao bởi ma lực của nghệ thuật!

Có lúc tinh chất thơ không tụ cho riêng một câu thì lại lan toả cho toàn bài, cái hay gây một cảm giác toàn bích, hoàn thiện, như Qua Phùng, nhớ Quang Dũng: Hồn gửi non Đoài, mây cửa ô/ Trang văn, giá vẽ bụi sông hồ  thì đích là Quang Dũng! Nhưng câu hỏi bâng quơ tung vào gió đã thoáng nụ cười hóm với bạn của Ngô quân: Có về chợp mộng qua sông Đáy / Mở gói nem Phùng đãi bạn thơ ?

Bốn câu thơ này được ngâm mở đầu cho CD Giọng ngâm xứ Đoài của Lưu Nga đã làm nhà văn Sao Mai bật khóc, khóc vì nhớ bạn, nhớ tuổi trẻ một ra đi không trở lại, vì người viết, người nghe, người được nhắc tới đều chập chờn bên lằn ranh sáng tối của kiếp người ! Người viết, người nghe đã vượt ngưỡng bát thập, gọi là thọ thì cũng là thọ, không vội ra đi như Quang Dũng. Nhưng với người chót mang nghiệp vào thân, cuộc đời dài ngắn không quan trọng, cái cần là thế đứng, là thế nhân cách của anh trong cuộc đời này là gì?  Câu hỏi lớn được Ngô quân gửi gắm vào người tạo thế trong vườn cảnh:    

Cây thông vút thế trực

Cây sung vươn thế hoành

Cây thì hổ phục, cây long giáng

Cây nào là thế của đời anh?

Ngô Quân Miện là nhà thơ viết cho thiếu nhi với tâm hồn đã trong lại càng trong trẻo. Với các cháu nội, ngoại của mình, hẳn ông phải yêu quý nhường nào: Ông ngồi các cháu xúm vây quanh/ Ríu rít chim về hội bách thanh. Nhưng vui đấy rồi lại chạnh buồn, lẽ thường của những người đã nhiều trải nghiệm sinh ly, tử biệt: Mai rồi mỗi đứa bay tung cánh/ Ông lại cù lao giữa sóng duềnh (Ông và cháu).

Niềm vui lớn của ông còn là bạn, ông hay đi vãn cảnh chùa cùng bạn thơ Thanh Hào, nghe bạn có ý cảm thương số phận một ni cô, ông thác lời bạn, thông cảm với bạn: Áo mộc tà bay trước cửa thiền/ Mi cong chưa dứt một tiền duyên/ Con sông quanh mãi miền trong, đục/ Em có tìm ra cõi lặng yên? (Trước cửa chùa). Mi cong chưa dứt một tiền duyên! Hẳn thơ tình của ông thời trẻ cũng bay múa lắm!

Tự nhận là một cây đàn, ông vẫn thường lắng nghe tiếng đàn của bạn mà định âm, định tính tình của bạn. Nghe đàn đáy là bài thơ ông viết tặng bạn đồng hương- vong niên Doãn Trang là một nghệ sĩ có giọng hát ca trù và tiếng đàn da diết. Nhưng nghe bạn lại nghĩ đến mình, suy bạn ra mình là lẽ thường của nghệ sĩ, những bậc tài tình, những Bá Nha, Tử Kỳ thấu hiểu nhau hơn cả tình ruột thịt!  Câu hỏi bạn cũng là tự hỏi mình: Đàn anh có đáy hay không đáy?

Câu hỏi này xin bạn đọc trả lời giùm về cây Đàn bốn dây của nhà thơ Ngô Quân Miện sau khi đọc bài thơ tặng Doãn Trang sau đây:

 

Nghe đàn đáy

Nhớ nghệ sĩ Doãn Trang

 

Mê mẩn chiều xuân sênh phách ru 

Dây căng đầu ngón, nhạc trầm u                    

Đàn anh có đáy hay không đáy?   

Giọt giọt như trời dấm dứt mưa    

 

Nhà thơ Ngô Quân Miện sinh ngày 27.9.1925. Từ 1945-1950 công tác trong ngành nông nghiệp. 1951-1988 cán bộ biên tập rồi Tổng Biên tập báo Độc Lập cho đến khi nghỉ hưu.

Tác phẩm chính đã xuất bản: Đất ngọn nguồn (in chung, 1982), Bóng núi (1993), Nét hoa văn (1999), Ngô Quân Miện- Thơ với tuổi thơ (2003), Tuyển tập Ngô Quân Miện (2003), Đàn bốn dây (2007).

Tác phẩm cho thiếu nhi:Bay chuyền(1976), Ngựa con đi chơi xuân (1978), Hoa đồng (1978), Bông hoa lạ (1982), Chú bé nhặt bông gạo (1974), Đôi cánh sẻ đồng (1989)…

Giải thưởng văn học: Giải Ba thơ báo Văn nghệ (1960-1961), Giải thơ Hội VHNT Hà Nội (1991-1995), Giải thưởng của Ủy ban TQCHVHNT năm 2000 và nhiều giải thưởng văn học khác. 

 

 

(Văn nghệ số Tết Mậu Tý)  

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác