Người lưu giữ hồn quê

Trần Quốc Tiến

(Toquoc)- Nhà thơ Đoàn Văn Cừ dù đã là nhà thơ nổi tiếng quốc gia, khi về sống ở làng, ông chẳng khác gì một lão nông, sống chan hoà đồng cam cộng khổ với dân làng, cũng tương cà mắm mặn, cũng nước vối bờ ao, mùa hè cũng cởi trần, mặc quần đùi thắt dải rút thò ra ngoài cái thấp cái cao, tay phe phẩy cái quạt mo cau… Những nét đẹp ấy là vốn quý. Thơ và ông là cái kho lưu giữ những hồn quê…

Người lưu giữ hồn quê  - ảnh 1
Tác giả và nhà thơ Đoàn Văn Cừ
Ngày nhà thơ Đoàn Văn Cừ qua đời, tôi đã đến viếng và đọc bài thơ “Tiễn Người lưu giữ hồn quê”:

Kính Người lưu giữ hồn quê

Giờ đây Người đã trở về cõi âm

Sáu mươi năm Thơ xanh mầm

Cây đời đón nhận tri âm của đời

Từ Phiên Chợ Tết người ơi

Đường về Quê Mẹ đầy vơi nhọc nhằn

Người ơi người đã yên nằm

Hồn quê ở lại đường trần nghiêng soi

Ngày mai nước mắt còn rơi

Bởi Thơ người đã hoá cơi trầu vàng…

Cùng với Xuân Diệu- Huy Cận- Chế Lan Viên- Tế Hanh- Hàn Mặc Tử- Nguyễn Bính… Đoàn Văn Cừ đã góp mặt làm nên giá trị cho Thi nhân Việt Nam từ 1942. Trong Thi nhân Việt Nam ông chỉ vẻn vẹn có bốn bài thơ mà đã được Hoài Thanh nhận định là trong đó các nhà thơ đồng quê không ai có ngòi bút dồi dào mà rực rỡ bằng. Thơ ông khép lại một thế giới thực, mở ra một thế giới mộng. Cảnh trước mắt vừa tan thì tình trong lòng cũng vừa nhóm. Mắt ta không thấy gì nữa, mà lòng ta bỗng bâng khuâng (Thi nhân Việt Nam).

Ông sinh ra và lớn lên ở mảnh đất có truyền thống văn hiến lâu đời, là cái nôi của bao lời ru tiếng hát ngọt ngào như dòng sữa mẹ ngày đêm thấm đẫm tâm hồn thơ trẻ. Những năm tháng đầu đời, ông đã lăn tròn trong bùn đất để cảm nhận được mùi thơm, sống trong nghèo khổ để biết được cái đẹp từ những mái nhà gianh vách đất, để rồi sau này suốt đời ông chỉ làm thơ về quê hương xứ sở. Toàn bộ thơ ông là cái kho lưu giữ những mảnh hồn quê, những cảnh làng quê, những bi thương và khát vọng của những con người ngày đêm sống lầm lũi bên luỹ tre xanh mà tâm hồn bao giờ cũng trong như nước giếng. Giá trị đích thực của thơ ông vượt lên thời gian, vượt lên mọi hoàn cảnh xã hội để trụ được đến ngày nay, chính là bắt nguồn từ những điều ấy.

Thơ ông không nói đến những cao sang quyền quý, không có lụa là gấm vóc, không có phấn son mà vẫn thơm vẫn đẹp. Cái đẹp dân dã bốc lên từ những mái nhà gianh, mái đình làng, từ những chiếc cầu tre vắt vẻo qua sông, từ tiếng chàng giã gạo đêm hè, từ những ngày hội làng, từ những phiên chợ tết. Cảnh làng quê dưới ngòi bút tả chân của ông hiện lên sinh động một cách tài tình. Nó thực đến từng chi tiết nhỏ, nó đầy đủ đến mức không thiếu một cái gì. Rồi đây các nhà khảo cổ muốn dựng lại một làng quê Việt Nam thời trước cách mạng, có lẽ không cần tìm mẫu ở đâu thêm nữa, cứ đưa thơ Đoàn Văn Cừ ra mà dựng lại, sẽ được một bức tranh toàn cảnh. Nhưng không phải vì thế mà nó thiếu đi chất mơ. Không có chất mơ thì không có thơ. Cái mơ là hồn của cái thực, nhờ có cái mơ ấy mà cảnh vật có hồn, là chất men để người đọc phải say. Bằng cái mơ, Đoàn Văn Cừ đã thổi cái hồn vào những cảnh thực mà ông đưa vào thơ la liệt. Hãy nghe nhà thơ rủ bạn gái về thăm quê mình:

Em cứ lại bao giờ tôi cũng có

Thảm cỏ nhung êm ái để em ngồi

Mặt gương hồ trong suốt để em soi

Lược trăng bạc yêu kiều trên mái tóc

Dây lưng trắng - hình sông vờn phía trước

Sương phấn hồng thoa má thắm để em tươi

Sao Hôm cài như một chiếc hoa tai…

(Lá thắm)

Đủ các thứ làm đẹp để cô bạn gái đến chơi phải vừa lòng: Nào thảm nhung êm ái để em ngồi, nào gương hồ trong để em soi, nào lược bạc để em chải tóc, nào dây lưng trắng để em thắt, nào phấn để em thoa, nào hoa tai để em cài… Vừa ý chưa nào? Nếu nghe lời tán này mà đén thì sẽ được thi sĩ dẫn ra bờ đê để ngồi thảm cỏ, dẫn ra hồ để soi gương và ngồi dưới ánh trăng rằm để có lược bạc cài đầu, ra con sông làng uốn khúc như một dải lụa để có dây lưng trắng, và lấy sao Hôm để làm chiếc hoa tai…

Cái đặc sắc nhất thơ Đoàn Văn Cừ là thế. Ông cho chúng ta vào cõi thực, rồi ông lại ru chúng ta vào cõi mộng, thực và mộng cứ quện tròn, hoà trộn rồi thì chẳng còn biết đâu là thực đâu là mộng nữa. Lúc ấy nhà thơ thành thi sĩ!

Thơ không cốt tả mà cốt gợi. Mà tả cũng chính là để gợi! Cái gợi ấy là ma lực của thơ, là đặc sắc của thơ, là ưu thế hơn hẳn của thơ đối với các loại hình nghệ thuật khác.

Hãy nghe nhà thơ tả con trâu:

Con trâu đứng lim dim hai mắt ngủ

Để lắng nghe người khách nói bô bô.

(Chợ Tết)

Ô hay! Ngu như trâu mà cũng biết dùng mẹo giả vờ lim dim hai mắt ngủ? Bằng hành động “giả vờ” ông đã đẩy con trâu lên ngang tầm con người: Nó cũng học ở con người những thói khôn vặt để tồn tại. Nó hiểu được tiếng người. Nó cũng được đi Chợ Tết ngày xuân, và nó đã lim dim hai mắt để thưởng thức cái rộn ràng náo nhiệt của cuộc sống con người đang diễn ra xung quanh nó.

Trong bài “Xóm nhỏ” ông tả:

Bức tường đất sau nhà nghiêng sắp đổ

Đàn chim sẻ cãi nhau quanh cửa sổ

Gà trên sàn đất mất trứng rủa lao xao

Vài chú bò nghĩ ngợi cạnh bờ ao.

Chim cãi nhau, gà rủa, bò nghĩ ngợi? Phải chăng vì chúng biết bức tường đất sau nhà sắp đổ? Loài vật còn biết sống có trách nhiệm như vậy, huống chi là loài người!

Thơ Đoàn Văn Cừ còn là kho lưu giữ những giá trị nhân văn làng quê. Nhiều nhà văn nhà thơ khi viết về làng quê Việt Nam thời trước cách mạng thường đưa ra toàn những đau buồn khổ ải mà quên đi cái nét đẹp ở những con người lam lũ, ở nơi ao tù nước đọng. Đoàn Văn Cừ thì ngược lại. Thơ ông cũng vẽ nên cảnh bần hàn nơi thôn dã, nhưng từ trong bần hàn ấy cuộc sống con người không mất đi cái đẹp, nó luôn bừng sáng lên từ mỗi nếp nhà gianh.

Người trong xóm hiền lành và chất phác

Họ không biết lọc lừa và đơn bạc

Gió thông lùa khung ngực những mùi thơm

Nước giếng soi trong vắt mảnh tâm hồn

(Xóm nhỏ)

Đọc thơ ông hôm nay lớp hậu sinh tự hào biết mấy về cha ông mình. Cái nghèo không làm xấu đi cái đẹp. Trong thiếu thốn mọi bề mà cuộc sống vẫn cân bằng. Tình làng nghĩa xóm lúc tối lửa tắt đèn yêu thương đùm bọc. Làng quê thanh bình yên ả với những đồng lúa, những bữa cơm chiều “gạo đỏ, cà thâm, vừng giã mặn, chè tươi nấu đặc nước vàng hoe” những cảnh ngày mùa “lúa trải vàng như bể kén tơ- từng đôi chim sẻ tới nô đùa- mổ từng bông một trong khi gió- bốc nhẹ mùi thơm phảng phất đưa”. Những ngày hội làng có “Chiếc ô đen lẳng lặng tiến ra cầu- Tìm đến chiếc san mầu bay trước gió” và những phiên chợ tết có “một thầy khoá gò lưng trên cánh phản- cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm- miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ- bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ- nước thời gian gội tóc trắng phau phau”. Những người dân quê trong thơ Đoàn Văn Cừ thật đẹp, bởi ông yêu họ và đã vẽ họ bằng cái tâm của mình. “Đàn ông khăn nhiễu đội đầu- Đôi giầy da láng, khăn trầu đỏ hoe- Đàn bà yếm đậu vàng hoe- Hàm răng đen nhức, váy lê thẹn thùng”. Ngay cảnh ông đồ dạy học cũng thật là độc đáo “Ông Đồ bảo học bên hàng xóm- Tiếng giảng chen trong giọng chích choè”. Cái đẹp của những người quê chính là sinh ra từ những cuộc đời lao động. Từ trong lao động mà con người tìm ra niềm vui, hạnh phúc, tìm ra sự bình yên, cân bằng cho cho cuộc sống. Nhà thơ tả cái thoả mãn đến tột cùng của người dân quê:

Gạo ních vào chum, trấu đổ bồ

Cám lồng đầy ró lợn ăn no

Xong mùa mỏ hái treo từng chuỗi

Phản tối người chen, tiếng ngáy khò.

Sinh ra và lớn lên từ mảnh đất nghèo nhưng đầy hương đồng gió nội, nhà thơ Đoàn Văn Cừ đã giành cả cuộc đời để trả ơn nghĩa cho quê hương, nơi có đường Vàng sông Ngọc bằng những vần thơ đầy tâm huyết, đậm đặc hồn quê. Thơ ông là cái kho lưu giữ những hồn quê bất hủ. Ông cầm cày, ông dạy học, ông đi kháng chiến, đi công tác rồi mấy chục năm nay ông lại về quê, sống một cuộc đời dân dã như tất cả bà con làng xóm quê mình. Thơ cũng theo ông từng bước. Ông vui biết bao khi thấy quê hương ngày càng đổi mới. Cái làng Đô Quan của ông ngày càng đẹp, con sông Ngọc trong xanh, con đường Vàng rộng phẳng. Tỉnh Nam Định văn hiến quê hương giờ đây cũng đang khởi sắc với cây cầu Đò Quan sừng sững vắt ngang sông Đào và đồng lúa mượt mà xanh bát ngát, đưa đến cho người quê cảnh “Mùa xuân trai gái ra sông Ngọc- Gánh nước về vo gạo tám xoan”. Ông ăn cơm quê hương đổi mới. Rồi lại làm thơ tả cảnh:

Thợ cày máy mồ hôi nhễ nhại

Ôm cả vò nước vối dốc lên tu

Chú bê con mình trải mượt lông tơ

Đứng nghếch mũi bên đồng xem máy chạy.

Đoàn Văn Cừ còn là nhà thơ tình của làng quê, hồn quê. Gần sáu mươi năm về trước, ông đã tán cô gái làng Nguyễn Thị Miền bằng bài thơ Hương đồng gió nội, để rồi vì mê thơ mà mê ông, cô gái xinh đẹp nhất làng Đô Quan ấy đã về làm vợ ông cho đến tận bây giờ, ghi lòng tạc dạ bài thơ ông tặng đến tận bây giờ. Chàng và nàng suốt bốn mùa nắm tay nhau:

Mùa xuân đi đón nắng hồng

Mùa hè tìm ổi tìm hồng chín thơm

Mùa thu đi kiếm nước nguồn

Mùa đông nghe tiếng chim luồn trong cây.

Hoặc là đi hội để:

Đu ai bổng ngọn tre làng

Gió nô tíu tít áo nàg áo anh…

Bài “Tiếng vọng” ông làm ở tuổi đã cao, nghe xôn xao nỗi niềm hoài vọng, rất nhiều người thuộc:

Lòng ơi sao lạ thế lòng

Bỗng nhiên đi nhớ người không nhớ mình

Tuổi xanh trôi hết dáng hình

Trăm thương ngàn nhớ cũng đành phụ nhau.

Ông còn là nhà thơ có những vần thơ rất hay về người mẹ, người bà. Một trong những bài thơ hay nhất của ông là bài “Đường về quê mẹ”, làm lúc ông mới ngoài hai mươi tuổi. Ông rất thích câu thơ của văn hào M.Gơ-rô-ki “Thái dương sinh những bông hồng- Mẹ hiền sinh những anh hùng, thi nhân”. Trong thơ ông, người mẹ hiện lên thật khác thường, không già nua, mà tươi trẻ đầy sắc xuân:

Thúng cắp bên hông, nón đội đầu

Khuyên vàng yếm thắm áo the nâu

Trông u chẳng khác thời con gái

Mắt sáng, môi hồng, má đỏ au.

Nhà thơ Đoàn Văn Cừ thuộc tuýp người “nhân hiền tại mạo”. Văn thơ ông thế nào thì người ông như thế. Trời đã phú cho ông một gương mặt hiền lành phúc hậu. Trời lại ban cho ông đức tính khiêm nhường, lòng vị tha thương người như thể thương thân, ban cho ông một cái Tâm đẹp như lời khuyên của Phật. Ông thương tất cả mọi người, ông quý tất cả mọi người từ Chủ tịch nước đến người cầm cày theo trâu. Dù đã là nhà thơ nổi tiếng quốc gia, khi về sống ở làng, ông chẳng khác gì một lão nông, sống chan hoà đồng cam cộng khổ với dân làng, cũng tương cà mắm mặn, cũng nước vối bờ ao, mùa hè cũng cởi trần, mặc quần đùi thắt dải rút thò ra ngoài cái thấp cái cao, tay phe phẩy cái quạt mo cau… Những nét đẹp ấy là vốn quý. Thơ và ông là cái kho lưu giữ những hồn quê…

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác