Người luôn ẩn mình sau những trang văn

 

Nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư sinh năm 1959, ở phố Lê Thánh Tông, Quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội, nhưng lại làm dâu Bắc Giang. Chị là Cử nhân Ngữ văn ĐHSP I Hà Nội, Cử nhân ngành Xuất bản, Học viện Báo chí - Tuyên truyền. Hiện nay nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư là Phó Tổng biên tập Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam. Ngoài tên thật chị còn có các bút danh khác như: Nguyễn Anh Thư, Anh Thư, Mạc Thế Vinh, Mạc Thanh Phương, Ngư Anh... Nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư đã xuất bản một số tập truyện ngắn và tiểu thuyết như: Vạn niên thanh cho Hải Quỳ (1995), Hãy thử một lần nữa xem (1996), Không nhan sắc (2000), Cháy đến giọt cuối cùng (2002), Thiếu học phí làm người, Năm thằng cao kều, 24 giờ lên đỉnh... một số truyện thiếu nhi và kịch bản phim nhựa “Hải Quỳ” do Hãng phim truyện I Việt Nam sản xuất năm 2005.


Người luôn ẩn mình sau những trang văn - ảnh 1

Nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư (ảnh internet)


Con người của công việc

Tôi từng biết nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư qua một số tác phẩm và các bài viết về chị cách đây khá lâu, nhưng tôi chưa một lần gặp, trước khi báo Bắc Giang tổ chức Hội nghị cộng tác viên vào ngày 2/11/2014 để chuẩn bị cho các số báo ra vào dịp Xuân 2015 và Tết Ất Mùi. Qua các truyện đã đọc, cảm nhận đầu tiên của tôi về nữ nhà văn này là một người kiệm lời, ít tiếng. Theo kinh nghiệm cá nhân, những người như thế thường khá cẩn trọng khi tiếp xúc với người chưa thật sự quen biết, nên không dễ gần…

Chừng khoảng hai tuần gì đấy, sau khi dự Hội nghị cộng tác viên ở Bắc Giang về, tôi gọi điện xin gặp nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư tại trụ sở làm việc. Chị nhận lời bình thường và hẹn vào ngày thứ 5 tuần tới. Đến ngày hẹn, tôi điện lại, chị có vẻ như hơi ngần ngại (vì có thể tôi là người xa lạ đối với chị chăng?) Tôi cố gắng giải thích lý do cần gặp một hồi, chị đồng ý. Đúng hẹn, tôi đến trụ sở nơi chị làm việc.

Đứng trước cửa căn phòng làm việc của vị Phó Tổng biên tập ở tầng hai, số 65, phố Nguyễn Du, Hà Nội, không lấy gì làm rộng, tôi thấy có hai, ba người đang hí hoáy bàn tán về bản thảo những cuốn sách chuẩn bị theo kế hoạch xuất bản. Ngay quanh bàn làm việc của chị cũng có vài ba bạn văn đang trao đổi với nhau những gì tôi không rõ. Tôi cũng đã từng làm biên tập của một vài tờ báo và tạp chí, nên hoàn toàn có thể chia sẻ với công việc của chị, nhất là làm bà đỡ ở nhà xuất bản của một hội nghề nghiệp như Hội Nhà văn, kinh phí quá ư là hẹn hẹp, nên mọi người đều phải xoay trần ra bươn chải để mà tồn tại.

Chờ một lúc khách ra về, Anh Thư quay sang tiếp tôi. Vừa rót nước, chị vừa loay hoay tìm cái gì đó. Vài phút sau chị mới lại bàn khách kéo ghế ngồi. Nhấp giọng ngụm nước trà nóng, Nguyễn Thị Anh Thư nói với tôi: “Em đang làm việc ở vị trí này, không muốn xuất hiện nhiều”. Tôi cảm thấy như bị hụt hẫng. Sau vài ba câu chuyện văn chương, tôi cảm thấy nét mặt của nữ nhà văn có vẻ như bớt căng thẳng hơn. Từ đấy chị trao đổi với tôi khá cởi mở, rồi chị lại ngăn kéo tủ lấy đưa tôi tài liệu. Những gì không có trên bản giấy, chị bảo tôi đưa USB để cóp trên máy tính. Thi thoảng lại có người vào bàn việc với chị. Thấy chị bận nhiều việc quá, tôi không nỡ quấy quả lâu. Tôi cầm tập tài liệu và chào chị. Anh Thư không quên nhắc tôi là khi nào viết xong nhớ chuyển cho chị đọc trước. Ra về tôi mang theo ý nghĩ về một người phụ nữ quá tất bật với công việc đến như vậy, thì sự cẩn trọng trong giao tiếp là rất cần thiết. Hóa ra những cảm nhận ban đầu của tôi về những trang viết của nữ nhà văn này không khác xa là bao so với con người bằng xương, bằng thịt của chị.

 

Và của những trang văn

Gần một tháng trời sau lần gặp, tôi dành phần lớn thời gian để đọc tiếp và đọc lại những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư. Là người đã từng đoạt giải Truyện ngắn hay của Tạp chí Văn nghệ Quân đội lúc 27 tuổi (1986), cách đây gần ba mươi năm, vì thế mà cái sự viết đối với Nguyễn Thị Anh Thư không chỉ ăn vào máu, mà dường như đã trở thành nghiệp chướng? Dù có bận việc đến đâu chị cũng dành thời gian còn lại có thể để tranh thủ viết và viết. Cái sự viết của chị như là một cuộc vượt thoát khỏi những công việc bận bịu cơ quan giao mà không thể đừng được. Nhưng có lẽ đối với nữ nhà văn, viết còn là ước muốn chia sẻ cho những phận người không may mắn mà chị từng gặp đâu đấy trên cõi đời hay trong những trang văn của đồng nghiệp?

Những truyện của Nguyễn Thị Anh Thư mà tôi từng đọc, bao giờ cũng có chuyện. Ấy là những chuyện tưởng chừng như giản đơn, gần gũi với cuộc sống hàng ngày mà tất thảy chúng ta đều có thể bắt gặp ở bất kỳ nơi đâu như: Món giả cầy, Năm thằng cao kều, Đêm Nguyên tiêu, A lê! Gâu gâu!... Nhưng khi đọc kỹ, tôi thấy Nguyễn Thị Anh Thư không dừng lại ở việc miêu tả những chi tiết, cảnh huống xảy ra câu chuyện, mà đấy chỉ là cái cớ để chị cài đặt những suy nghĩ cá nhân về thế thái nhân tình, quan niệm nhân sinh mang tính phổ quát hơn, nhưng chúng bao giờ cũng được chị chọn lọc thật sự kỹ lưỡng.

Món giả cầy là một truyện ngắn thuộc loại như thế, vừa chặt chẽ về bố cục, vừa ngắn gọn xúc tích trong lối kể. Có người đã nói rất đúng rằng: Cái kể không bằng lối kể. Quả thực Nguyễn Thị Anh Thư đã tìm được cho mình một lối kể riêng trong câu chuyện này. Từ tên truyện đến diễn biến tâm lý của thầy giáo Trọng, nhân vật chính của truyện, khiến người đọc dễ bị ám ảnh và chắc là không ít người sau khi đọc phải cười ra nước mắt, vừa thương cho thầy giáo Trọng, lại vừa thương cho thân phận ôsin của cô Dời. Chỉ vì những tục lệ có từ thời nảo thời nào ấy cứ bấu víu lấy mỗi phận người chúng ta, nên dù tiền bạc có phân minh đến mấy, nhưng đã là tình nghĩa thì chẳng bao giờ có thể sòng phẳng được, nhất là cái thứ tình nghĩa non người dưng, già họ hàng như thầy Trọng và cô Dời. Một thứ họ hàng dây cà ra dây muống, loanh quanh luẩn quẩn sao đó mà tính theo đằng nhà nội thì ông nội thầy lại gọi ông ngoại người này là chú họ. Suy ra, người này, thầy chẳng biết nên gọi là em hay phải gọi là cô. Người này năm nay bốn lăm, bốn sáu, xấp xỉ tuổi thầy; thôi thì cứ gọi là cô. Cô em hay cô dì, hiểu theo nghĩa nào cũng được… Họ hàng cách xa dăm bẩy đời, đối với dân đã sinh ra và lớn lên ở thành phố như thầy cứ gọi là quên đi! Bắn tên lửa Tômahốc mới tới. Đời thứ ba đối với nhau đã nhạt như nước ốc. Đến đời thứ năm là có thể lấy nhau rồi…

Vậy mà thầy giáo Trọng của dòng họ Hứa Văn vẫn không những phải chấp nhận, mà còn phải cúc cung tận tụy chỉ vì một lẽ giản đơn: Giờ mà thầy không chu đáo với cô Dời, khi về làng, họ hàng sẽ xỉa xói, “đào mồ cuốc mả” cha ông thầy lên. Sống trong thời buổi kinh tế thị trường xoay vòng đến chóng mặt, mà cái thói duy tình ấy của người Việt cứ níu chân người lại thì làm sao mà phát triển đi lên được. Nhưng đấy là một thực tế đang diễn ra hàng ngày đối với không ít người dân ở các đô thị lớn, không thể phủ nhận được.

Một chuyện khác mà tôi thích là truyện Đêm Nguyên tiêu. Thầy giáo dạy văn cấp THCS kiêm nhà thơ nghiệp dư Hoàng suốt ngay say xỉn cùng với mấy ông bạn từ thuở học trò sống giữa phố phường thời mở cửa. Chỉ ngặt một nỗi đúng vào cái đêm Nguyên tiêu cả khu phố mất điện, tối đen như mực, trời lại mưa phùn, ấy cũng là lúc các nhà thơ trong câu lạc bộ Hương phường ta tụ tập lại với nhau để nhậu nhẹt. Tửu nhập, ngôn xuất, âu cũng là lẽ thường tình trên thế gian này. Trong cuộc nhậu hôm ấy có tám người đã nốc tới 2 can mười lít rượu. Khi say, một người trong đám bạn nhậu đã nói trắng phớ ra rằng Hoàng là một tay hám gái. Làm thơ cũng chỉ để tán gái: Cậu tí ta tí tởn, cậu tưởng đều là chữ T cả nên có thể lấy thơ bù tiền. Cậu ngộ nhận, cậu chủ quan nên mới bị em Nga đá cho một nhát bay về đến cổng còn xoáy ba vòng mới đứng lại được. Bây giờ nhớ lại thấy mông vẫn còn ê ẩm…

Nhưng đối với Thúy Loan, vợ Hoàng, có lúc anh gọi đùa là Thúy Điên, Thúy Loạn hay con mụ “Bột giặt Thái Hà”. Chẳng thế mà có người bảo, sau cái đận đem thơ ra tán tỉnh em Nguyệt Nga không thành: Rồi là cậu (Hoàng) chán đời, để một mẹ ranh chẳng yêu đương chỉ yêu tinh tròng luôn cho một cái xích vào cổ. Thế là toi một thời trai trẻ... giờ thấy ngu thì đã muộn”.

Mọi công việc nhà cửa, bếp núc, thậm chí cả buôn bán bất động sản, xây nhà cao tầng cho thuê, Hoàng không đếm xỉa đến bất cứ việc gì sất. Cũng là phải thôi, anh không làm thì lấy đâu ra mà hưởng, kể cả tự do thân thể và tinh thần. Và vợ Hoàng là hắc tinh, là nỗi ám ảnh bất tận của chồng cũng là điều không lấy gì làm khó hiểu. Chẳng thế mà: Cứ nghĩ đến ả Loạn là lý trí của Hoàng lại chộn rộn thán phục những hành động hiệu quả của vợ, nhưng đồng thời, trái tim anh lại gợn rợn sợ hãi cái bản chất bạo liệt không bờ bến của ả.

Hoàng bị những ức chế tâm lý khi nghĩ về vợ mình - con mụ “Bột giặt Thái Hà”. Khi có người chọc tức khiến anh giáo hư thân mất nết này Hoàng buột miệng, dù đấy chỉ là những lời đùa cợt: Ước gì có gã nào ẵm hộ cái mụ Bột Giặt Thái Hà của tao đi luôn thì tốt quá!... Tao chỉ cần một chầu rượu tuý luý là xong phắt. Con mụ ấy áp chế tao bao năm nay, chứ không thì thơ tao đã hay vút tầm...

Thế là ma dìu, quỉ dắt đã đưa Hoàng sa vào cái cửa hàng kim hoàn của gã Thứ Tám mới lạ trong đám bạn vừa nhậu - không biết gã là ma quỷ hay hồ ly - gã có đám nhân viên mà cô nào cô nấy da dẻ nuột nà, ngà ngọc, diện mạo phúc hậu, dáng dấp thanh tao; thi nhau ngợi khen chủ nhân tốt phúc, cửa hiệu may mắn được thi nhân họ Nguyễn hạ cố ghé thăm. Kết quả là nhà thơ nửa mùa của chúng ta đã đổi vợ để có thể sáng tác được một bài thơ hay và lấy cái chức Hội trưởng Hội thơ Câu lạc bộ Hương phường ta.

Nhưng điều trớ trêu là Hoàng lại không biết chính mình cũng đã bị đã bị vợ đem ra trao đổi. Vợ anh đã có một hợp đồng kinh dị với ông chủ tiệm vàng ma quỷ. Ả đã đổi chồng - nhà thơ Hoàng để lấy đất đai của cải như trong một giấc mơ…

Hạnh phúc gia đình tan nát, chẳng còn màng đến thơ phú, ngoài thời gian dạy học trên lớp Hoàng cưỡi chiếc xe đạp cọc cạch lần mò khắp các ngõ gách phố cổ để đi tìm lại cái hạnh phúc mộc mạc bình dị xưa kia của đời mình. Ai biết ở đâu có bốn cái nắp hố ga liền nhau như thế thì chỉ hộ anh với? Bằng không, không có ai biết thì có lẽ Hoàng lại phải chờ đến đêm có “Quang minh khai thái” (Trời- Đất giao hòa) sang năm. Đây là một truyện ngắn có tính chất ly kỳ huyền ảo kiểu Liêu trai chí dị.

Toàn bộ câu chuyện của Nguyễn Thị Anh Thư và nhất là cái kết hiển lộ rõ suy tư đầy chiêm nghiệm về thế thái nhân tình, một quan niệm nhân sinh mang tính nhân văn sâu sắc, phảng phất triết lý nhân quả của nhà Phật. Một kẻ ham chơi, thích mơ mộng, rượu say tối ngày, đầy đêm và ưa thơ phú tán gái như anh giáo Hoàng, ắt sẽ sẽ có ngày hạnh phúc của gia đình sẽ biến thành mây khói. Còn những người phụ nữ đầy chất thực dụng như vợ anh, dùng đủ thủ đoạn đầy mưu ma chước quỉ để kiếm tiền, đặt tiền bạc lên trên nghĩa tình thì rồi cũng phải chấp nhận một cuộc sống thiếu hạnh phúc gia đình…

Trên đây chỉ là những cảm nhận ban đầu của tôi về hai trong số hàng chục truyện ngắn và tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư mà tôi đã đọc. Nhưng có một điều cần khẳng định là chị Anh Thư có một lối kể rất riêng trong hầu hết các tác phẩm. Sự chọn lọc kỹ các chi tiết, cảnh huống là cơ sở để làm nên tính hàm súc, kết hợp với một giọng văn khách quan, nhiều chỗ tưng tửng, ít khi chen ngang bàn luận, đánh giá thay nhân vật đã tạo nên sự cuốn hút đối với người đọc. Chúc chị thành công!

Đỗ Ngọc Yên

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác