Người cô độc trên đường văn xứ tuyết

Nhà ngoại giao này, từ lâu, đã tự nguyện thành dịch giả, chỉ với mục đích duy nhất là giới thiệu những cái hay, cái đẹp của văn học Ba Lan đến với người đọc Việt Nam. Không tiền bạc. Không ai khuyến khích. Ông cô độc trên những con đường văn học xứ băng tuyết ấy, đọc hàng trăm cuốn sách, chỉ để hy vọng tìm cho được một tác phẩm tốt để dịch và giới thiệu với công chúng Việt Nam.

Người cô độc trên đường văn xứ tuyết - ảnh 1
Dịch giả Lê Bá Thự
Lê Bá Thự, sau thời gian làm phiên dịch cho 7 đời đại sứ Ba Lan tại Việt Nam, sau 4 năm làm Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan, giờ trở về căn nhà nhỏ của mình với những giá sách thật lớn, tiếp tục tình yêu cô độc của một người yêu văn học Ba Lan đến cuồng si…

Có nhiều lý do để tình yêu ấy trong Lê Bá Thự ngày càng sâu nặng. Nhưng có lẽ trước hết là ông biết ơn những người dân Ba Lan trong suốt những tháng ngày sinh viên ông học tập ở đây. Họ yêu quý người Việt một cách hồn hậu. Những sinh viên nhỏ bé đến từ một dân tộc da vàng. Đêm Giáng sinh và ngày đầu năm mới, mỗi sinh viên Việt Nam lại được các gia đình Ba Lan đón về hưởng cái Tết ấm áp.

Thực sự với không ít người sống ở Việt Nam, Ba Lan là một miền băng tuyết và người châu Âu bị mặc định là sống lạnh lùng. Và không ít người vẫn chỉ biết về Ba Lan qua những câu thơ của Tố Hữu: "Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan. Đường bạch dương sương trắng nắng tràn". Lê Bá Thự đã đến với mảnh đất ấy, rồi như duyên phận, tiếp tục làm công việc của một người phiên dịch, tự mình bồi đắp lấy cái hành trang văn hóa, tri thức và tự tìm hiểu lấy những phong tục, thói quen của người Ba Lan trước khi đến với Ba Lan trong tư cách của một nhà ngoại giao.

"Những ngày sinh viên mình không có điều kiện được đọc văn học Ba Lan nhiều, vì lo học, khóa học rất nặng. Và không phải ngẫu nhiên mình giỏi tiếng Ba Lan, phải rèn luyện rất kỹ và không hiếm khi mất kiên nhẫn. Về Việt Nam, mình làm giảng viên Khoa Trắc địa - bản đồ tại Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội được 2 năm thì được Bộ Ngoại giao mời về làm việc. Làm phiên dịch cho các đại sứ Ba Lan tại Việt Nam mình tận dụng triệt để thư viện của họ. Đó là một kho chữ nghĩa khổng lồ. Mình đọc và yêu văn học Ba Lan từ dạo ấy. Mình nghĩ nếu đông đảo bạn đọc Việt Nam được đọc những tác phẩm có giá trị của văn học Ba Lan thì thật đáng quý".

Có lẽ đó là cái duyên đến với công việc dịch thuật. Nhưng sâu xa hơn, có lẽ Lê Bá Thự tin rằng, để hiểu một dân tộc, phải đi qua những trang văn. Để hai dân tộc xích lại gần nhau, cũng phải đi qua những trang văn. Bởi trong mỗi trang văn ấy, sẽ là cốt cách của con người, là những nét đặc trưng của một dân tộc.

Quan niệm của Lê Bá Thự trong dịch thuật chỉ gồm một chữ "Đúng". Ông cho rằng, đúng có nghĩa là bản dịch phải giữ được văn phong của tác giả. Mỗi tác giả có phong cách của riêng họ, người dịch phải hành văn trong tiếng Việt sao cho đúng với phong cách đó, giữ cho được phong cách đó. Một bản dịch làm giảm hoặc làm lệch văn phong của tác giả là một bản dịch không đạt. Ông không chấp nhận mọi sự "sáng tạo" làm sai lệch bản gốc.

Lê Bá Thự là một người nguyên tắc. Và ông tôn trọng sự đúng chi tiết cũng bởi ảnh hưởng của công việc. Lê Bá Thự đã làm phiên dịch cho 7 đời đại sứ Ba Lan tại Việt Nam. Làm phiên dịch không đơn giản là chuyển nghĩa, mà phải làm được việc dịch chuẩn, dịch hay và dịch nhanh. Người ta hay gọi đó là công việc dịch miệng, dịch đuổi. Không có một vốn từ dư dật, không phản xạ nhanh, thiếu vốn sống, lúng túng, thiếu tự tin thì không thể thành công trong dịch đuổi được.

Đã có người vì quá căng thẳng mà bị ngất xỉu trong khi dịch là do vậy. Lê Bá Thự chưa bị ngất xỉu, nhưng những năm tháng làm việc căng thẳng đã khiến ông bị đau bao tử. Những bữa tiệc chiêu đãi của đại sứ với ông luôn là những buổi làm việc vất vả nhất. Dường như ông chỉ hút thuốc và uống rượu, không dám ngồi ăn vì cảm giác mất lịch sự khi vừa ăn vừa làm phiên dịch.

Đêm khuya ông mới trở về nhà và luôn hỏi vợ một câu rất quen từ ngoài cửa: "Bữa nay có món gì ăn không?". Những ngày sau đó, ông đã phải tới bệnh viện hai lần để cắt đi tới 2/3 cái dạ dày vì bị viêm loét. Nhưng ông không gọi đó là sự trả giá. Ông vẫn luôn nghĩ rằng, sống hết mình và làm việc hết sức. Và cũng vì hết sức hết mình như thế mà khi bước sang dịch sách văn học, ông đã không còn bỡ ngỡ, không còn lo lắng vì tự ông đã có một vốn kiến thức phong phú đủ để không xa lạ với bất cứ vấn đề nào.

Thế nhưng, Lê Bá Thự là người thận trọng hơn bao giờ hết. Ông làm việc liên miên trong căn phòng của mình. Mẹ ông từ trong Thanh Hóa thi thoảng gọi điện ra chỉ để dặn duy nhất một điều, con trai phải đi ngủ sớm. Ông làm việc với máy tính nhiều, nhức mắt thì nhỏ quá nhiều thuốc, và cuối cùng mắt mờ đi, phải giảm bớt thời gian làm việc.

Được một thời gian khi mắt hồi phục, ông lại thức đêm để lăn lộn với từng bản dịch của mình. Đến nay thì Lê Bá Thự đã có 15 đầu sách dịch, trong đó có những tác phẩm đồ sộ như tiểu thuyết Pharaon, nói về thời Ai Cập cổ đại, ông đã phải dồn sức trong 2 năm, hay cuốn "Hoang thai", một tiểu thuyết hiện đại gây chấn động Ba Lan, ông cũng phải dành tới 6 tháng.

Trong khi tôi tới gặp Lê Bá Thự, thì cũng là lúc cuốn sách "Xin cạch đàn ông" của nhà văn Katarzyna Grochola do ông dịch được tái bản, ngay sau lần xuất bản đầu tiên một tháng. "Xin cạch đàn ông" kể về một nữ nhà báo ngoài 30 tuổi, anh chồng đột ngột tuyên bố muốn ly dị để tìm kiếm hạnh phúc bên một người phụ nữ trẻ đẹp khác, chị và con gái là những người phải ra đi. Bắt tay vào làm lại cuộc đời, trước mắt chị là những khó khăn chồng chất.

Trải qua những giây phút chao đảo, bị ruồng bỏ và cả dối lừa, Judyta khao khát chứng minh cho cả thế giới biết chị có thể sống vững vàng mà không cần đàn ông. Thế nhưng, đằng sau vẻ bất cần và quyết tâm "xin cạch đàn ông" sắt đá, Judyta, cũng như bất cứ người phụ nữ nào, vẫn không nguôi giấc mộng về chàng hoàng tử cưỡi ngựa trắng, cho đến một ngày, phép mầu đã đến cùng người đàn ông có tên Adam...

Một trong những điểm làm nên sức hấp dẫn của "Xin cạch đàn ông" đó là chất humour thể hiện đậm nét trong giọng điệu, cách xây dựng nhân vật, lựa chọn chi tiết... Câu chuyện về hành trình kiếm tìm hạnh phúc của một phụ nữ bị ruồng bỏ, vì vậy, trở nên nhẹ nhõm, hài hước và lôi cuốn hơn. Công không nhỏ của Lê Bá Thự là giữ lại được giọng điệu hài hước, sự bất cần nhưng vẫn đầy tình cảm của nhà văn.

Vợ ông kể, chỉ vì một từ mà những người phụ nữ hiện đại hay dùng, trong tiếng Việt có nghĩa là "phẩy light" trên tóc, nhưng trong vốn từ của ông chưa kịp cập nhật, ông đã trăn trở cả tháng trời. Vợ ông đi chợ và tìm đến những tiệm uốn tóc để diễn tả về hành động ấy. Ông cũng đi tìm từ những người mà ông cho là… sành điệu. Cuối cùng thì được một từ đúng nghĩa nhất. Từ "cạch" trong "Xin cạch đàn ông" cũng là một gợi ý của vợ ông. Từ "cạch" được vang lên, đúng và sát nghĩa nhưng vẫn đầy hóm hỉnh.

Lê Bá Thự không muốn dịch vội.

Ông làm việc tỉ mẩn với từng con chữ. Mỗi cuốn sách của ông là một khoảng thời gian dài đắm đuối. Và khi cuốn sách được xuất bản, nhuận bút được ông quy đổi ra sách để đem biếu, đem tặng người quen. Bởi mục đích của Lê Bá Thự là đưa cho bạn đọc những cái mà ông cho rằng nên đọc. Và lại hẹn những người bạn chí cốt đi uống bia hơi. Vợ ông bảo, chỉ có hao tiền chứ chẳng bao giờ có hào nào cho vợ. Nhưng nếu không được dịch sách, có lẽ ông đã không được khỏe mạnh như vậy.

Bà nói đùa, số tiền hao đó coi như là chi phí giữ sức khỏe tinh thần cho chồng. "Những người không hiểu chuyện, người ta bảo tôi bị hâm, dịch chẳng để làm gì mà cuối cùng lại còn thêm mệt. Nhưng tôi không nghĩ vậy, tôi biết việc mình làm. Nhiều người gọi tôi là nhà ngoại giao văn hóa. Nhưng tôi thì không nghĩ to tát thế. Tôi chỉ muốn việc làm của mình để bạn đọc Việt Nam hiểu thêm về một nền văn học lớn, có tới 4 nhà văn đoạt giải Nobel, và hiểu thêm về Ba Lan mà thôi" - Lê Bá Thự nói.

Tôi nói với ông rằng, ông đã già nhưng lòng yêu cuồng si thì rất trẻ. Ông cười rất tươi, đúng là có cuồng si thật. Nếu không yêu đến thế chắc ông không say sưa như vậy. Tại Việt Nam chỉ có vài người dịch văn học Ba Lan, nhưng đến nay thì chỉ một mình Lê Bá Thự say sưa theo đuổi. Mà lại không đòi hỏi bất cứ điều gì. Như là một tình yêu không cần sự đáp lại.

Tôi nhớ, trong cuốn "Pharaon", Đại sứ Ba Lan tại Việt Nam có nói rằng, Lê Bá Thự là người dịch văn học Ba Lan sang tiếng Việt tốt nhất. Mỗi khi dịch xong một cuốn sách, ông thường đưa cho đại sứ đọc để góp ý. Và họ như những người bạn, hiểu nhau qua những trang văn.

Năm 2005, Lê Bá Thự được mời sang Ba Lan dự hội nghị những người dịch văn học Ba Lan, được gặp gỡ hơn 200 dịch giả trên thế giới và ông chợt nhận ra rằng, có thể ở Việt Nam ông đang đi một mình, nhưng ông có rất nhiều người cùng chí hướng. Mỗi chuyến đi Ba Lan, ông xếp tất cả các túi hành lý là sách.

Miên man trong những nhà sách ấy, ông tìm được cho mình những niềm vui. Và mang về Hà Nội, ông lại hì hụi đêm đêm, quên đi mọi chuyện, một mình đắm đuối với những con chữ. Và tôi chợt nghĩ, có thể một ngày nào đó, ông sẽ làm hành trình ngược, ông sẽ dịch và giới thiệu văn học Việt Nam với bạn đọc Ba Lan…  

(Công an Nhân dân)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác