Người có "con mắt xanh"

Trong các nhà nghiên cứu, phê bình văn học là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam có một người có tài, thậm chí biệt tài, chỉ với mấy nét phác thảo (bằng ngôn từ), có thể dựng được chân dung nhà văn, có thể chỉ ra được thần thái, thể tạng của một nhà văn (về tư tưởng và phong cách nghệ thuật).

Nhà thơ Xuân Diệu gọi ông là người có mắt xanh, còn nhà thơ Hồ Dzếnh thì đánh giá ông khả năng nhận ra được cái thần của nhà văn... Người đó chính là Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Đăng Mạnh, giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, từng là Uỷ viên thường trực Hội đồng Lý luận phê bình Hội Nhà văn Việt Nam khoá 3 và khoá 4. GS. Nguyễn Đăng Mạnh đã được trao Giải thưởng Lý luận phê bình của Hội Nhà văn Việt Nam lần một (1985) cho cuốn Nhà văn, tư tưởng và phong cách, lần 2 (2001) cho cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại, chân dung và phong cách và đã được nhận Giải thưởng Nhà nước năm 2000.

Như đã nói, GS. Nguyễn Đăng Mạnh có sở trường trong việc dựng chân dung nhà văn. Qua các trang viết của mình, Giáo sư đã từng làm sáng giá sự sang trọng và tài hoa của Nguyễn Tuân; khám phá ra niềm khát khao giao cảm với đời của Xuân Diệu; niềm căm uất không nguôi của Vũ Trọng Phụng; nỗi đau dai dẳng vì tình trạng con người bị sỉ nhục của Nam Cao; tình cảm nhân đạo thống thiết của Nguyên Hồng; sự bốp chát, đánh vỗ ngay vào mặt đối phương trong phong cách trào phúng của Nguyễn Công Hoan; tính chất trí tuệ sắc sảo của Chế Lan Viên; sự tái hiện hiện thực cách mạng trong cái phần gân guốc nhất, mãnh liệt nhất của Nguyễn Thi,... GS. Nguyễn Đăng Mạnh còn chỉ ra: Tô Hoài là nhà văn của những người thường, của chuyện thường, của đời thường; Nguyễn Đình Thi chỉ nhạy cảm với vẻ đẹp của đất nước trong khổ đau, gian nan, bất hạnh; truyện của Nguyên Ngọc thường là những trải nghiệm khác thường, dữ dội, gây ấn tượng mạnh; Nguyễn Khải là người rất tỉnh và khôn (thơ thì có Chế Lan Viên, văn xuôi thì có Nguyễn Khải); thơ của Chính Hữu là thơ hành quân, là những khúc quân hành; nhân vật nào của Nguyễn Huy Thiệp cũng góc cạnh, gân guốc, cũng sống đến tận cùng cá tính của mình...

Có đều thú vị là, khi đọc một tác phẩm (dù là lí luận phê bình hay sáng tác) độc giả thường có ấn tượng về cái tên của người viết, từ cái tên và phong cách nghệ thuật, phong cách khoa học của tác giả mà hình dung, tưởng tượng về tác giả. Đối với trường hợp GS. Nguyễn Đăng Mạnh, ngoài cái họ Nguyễn rất phổ biến, trung tính, ít gợi tưởng tượng, chữ Đăng có nghĩa Hán Việt là lên, chữ Mạnh gợi liên tưởng về một sự mạnh mẽ, bản lĩnh, ngoan cường...

Cả cái tên Nguyễn Đăng Mạnh gợi tới một con người cao ráo, mạnh mẽ, tài hoa, sang trọng... Tiến sĩ Chu Văn Sơn trong bài Nguyễn Đăng Mạnh - từ bục giảng tới văn đàn (in trong Nguyễn Đăng Mạnh - Tuyển tập, NXB Giáo dục, 2005) đã viết: "Chẳng biết có phải do ấn tượng từ tên sách, từ lối văn của cuốn Nhà văn, tư tưởng và phong cách hay đơn giản chỉ vì cái chữ Đăng rất võ đoán trong cái tên ông xui khiến mà hồi chưa vào đại học, tôi cứ hình dung Nguyễn Đăng Mạnh là một người cao cao, trán hói. Sau cặp kính dày cộp là khuôn mặt đăm chiêu lúc nào cũng lơ đãng một cách nghiêm trang, trên tay là chiếc cặp nặng trĩu những tư liệu và công trình... Tóm lại là nội học giả rất sang trọng".

Mỗi độc giả có thể hình dung, tưởng tượng về tác giả theo nhiều liên tưởng, những cảm nhận của riêng mình.

Trở lại trường hợp GS. Nguyễn Đăng Mạnh, có lần người viết bài này trực tiếp hỏi Giáo sư xung quanh bút danh Nguyễn Đăng Mạnh. Giáo sư vui vẻ cho biết: cái tên của mình (GS. tự xưng một cách thân mật) liên quan đến việc làm giấy khai sinh thời trước. Tên khai sinh đầu tiên của mình, theo các cụ kể lại, là Nguyễn Đăng Minh. Sau đó, cụ thân sinh mình bỗng nhớ trong gia đình có cụ tổ tên là Minh. Chết rồi, trùng tên cụ tổ như vậy thì láo quá, nguy quá, phải đổi ngay! Để cho tiện, chỉ cần thêm dấu nặng vào tên Minh thành Mịnh. Thật thú vị, đến nay bà chị mình đã 80 tuổi, vẫn gọi mình là Mịnh, cậu Mịnh. Lớn lên, mình bỗng nhận thấy cái tên Mịnh chẳng có nghĩa gì cả. Thế là mình tự đổi thành Mạnh. Thời kháng chiến chống Pháp, nhiều người chẳng có giấy tờ tuỳ thân, nhân đó mình khai bị mất giấy thông hành, giấy chứng minh (giấy khai sinh thì đã mất từ lâu) và xin được cấp lại. Một mặt mình ghi trong giấy chứng minh tên là Mạnh, mặt khác, khai rút đi 1 tuổi. Tuổi thực là Canh Ngọ, sinh năm 1930, nhưng khai là 1931, cho trẻ trung, dễ lấy vợ... Thành ra đến nay, nhiều giấy tờ, sách vở đều ghi sinh năm 1931. Mãi gần đây, trong cuốn Nguyễn Đăng Mạnh - tuyển tập (sách đã dẫn), mình mới ghi tuổi thực là sinh năm 1930...

Nhắc đến những chi tiết trên, đồng thời là những kỉ niệm thời tuổi trẻ, GS. Nguyễn Đăng Mạnh cười rạng rỡ, thoải mái. Tôi hỏi thêm: Ngoài bút danh Nguyễn Đăng Mạnh ghi dưới các công trình nghiên cứu, thầy còn dùng bút danh nào khác không? Giáo sư cho hay, có một lần duy nhất dùng bút danh Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (tên con gái). Ấy là khi viết về trường ca Khúc hát người anh hùng của Trần Đăng Khoa...

Mới biết, tên mỗi người vốn mang tính võ đoán, quy ước, nhưng cũng ẩn chứa bao điều thú vị.

 

LÊ HỮU TỈNH

(Văn nghệ)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác