Ngày sau sỏi đá...

Nguyễn Duy

... xin gửi các bạn một bài viết viết cách đây hai mươi năm, và một bài thơ làm cách đây mười chín năm. Cả hai bài này đều đã tặng trực tiếp cho Trịnh Công Sơn và đều đã in trong sách ngay từ lúc vừa viết xong. Nếu có thể đăng lại thì cứ đăng trên báo điện tử Tổ Quốc để nhiều người, nhất là lớp trẻ bây giờ, cùng đọc và cùng nhớ về Sơn một thời còn sống.

Một đêm tình cờ... Mặt trận Đường Chín - Nam Lào (1971)... trong căn hầm kèo bên dòng sông Sêbănghiêng, tôi - phóng viên chiến trường, đang bám theo tiểu đoàn thông tin của sư đoàn 308 do anh hùng quân đội Chu Văn Mùi làm tiểu đoàn trưởng... Nghe, nghe trộm - vâng, lúc đó gọi là nghe trộm - đài Sài Gòn, tình cờ “gặp” Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly... Diễm xưa... mưa vẫn rơi mưa trên tầng tháp đổ - làm sao em biết bia đá không đau... ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau... Quỉ thật ! Giai điệu ấy và lời ca ấy tự nhiên “ghim” lại trong tâm tưởng tôi ngay từ phút bất chợt ấy... Rồi, Như cánh vạc bay... Quái thật ! ... Cảm nhận bất chợt, những bài hát rất mượt mà, đắm đuối ấy không thuộc chủng loại èo uột, rên rỉ, nỉ non mà thời ấy người ta vẫn quen gọi chung là “nhạc vàng”.

Ngày sau sỏi đá... - ảnh 1

Ừ, thì có buồn đấy, đau đấy, quặn thắt nữa đấy... nhưng còn là cái gì lành mạnh nảy nở trong đó. Hình như là cái đẹp. Cái đẹp trong câu nhạc. Cái đẹp trong ca từ, cả xác chữ lẫn hồn thơ. Bảng lảng, lờ mờ, khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng rõ ràng là đẹp, đẹp làm sao... và cũng hơi ma quái thế nào. Tôi lớn lên ở vùng đồng quê sông Mã, vẫn thường nghe tiếng vạc kêu sương. Nào có thấy con vạc đâu, mà tiếng vạc thì rất nhớ. Con vạc xa, thật xa, mà tiếng vạc rơi trong thăm thẳm đêm xưa tịch mịch thì lại gần, thật gần. Sự thật cuộc đời, ít ra đối với tôi cho tới lúc đó - năm tôi hai mươi bốn tuổi, là như vậy. Mấy ca khúc của Trịnh Công Sơn như cánh vạc bay qua tôi rồi, và để lại cái ám ảnh thẩm mỹ. Ừ, biết đâu... ngày sau sỏi đá...

*
* *

Rồi một ngày tình cờ... Mặt trận Quảng Trị (mùa hè 1972)... tôi - phóng viên chiến trường, lại bám tiểu đoàn thông tin của sư đoàn 308... theo một tiểu đội trinh sát vào thị trấn Đông Hà đã bỏ trống... Ngọc Hà Tịnh Xá - tôi chưa rõ đó là đền hay chùa, mái tôn, vách gỗ, lỏng chỏng hương nhang và la liệt sách tung dưới nền xi măng. Kinh Phật... lấy thử vài cuốn coi. Việt Nam tân tự điển của Thanh Nghị... nhặt. Nghệ thuật hiện đại của Giô-dép Ê-mi-lơ Muy-lê... được. Thơ của Bùi Giáng, của Nguyên Sa... được, thử coi... Và, Ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn... nhặt liền. Tôi làm một ba lô sách, các thứ mà lúc đó gọi là “văn hóa phản động”, lặc lè mang ra hậu cứ trước những cái nhìn nửa ngơ ngác, nửa lo ngại của đồng đội. Tôi làm bộ quan trọng ra mặt, nằm bẹp trong hầm “nghiên cứu” mấy thứ vừa nhặt được ấy, coi lướt qua và loại bỏ dần. Thật tiếc cuốn Việt Nam tân tự điển, có chú Hán ngữ và Pháp ngữ, nhưng nó nặng quá, đành phải bỏ lại. Tôi giấu trong ba lô suốt các ngả đường chiến dịch, và sau đó mang về Hà Nội được hai cuốn thôi, Nghệ thuật hiện đại và tập nhạc Ca khúc da vàng, kể như thế đã là to gan lớn mật lắm rồi, dám đọc và lưu trữ sách của địch ! Tôi hoàn toàn mù nhạc, nghe thì cảm được đại khái là thích hay không thích, hay hoặc không hay, thế thôi... xướng âm thì mít đặc, đọc Ca khúc da vàng như đọc thơ vậy. Ca từ của Trịnh Công Sơn quả là thơ thật, và hay thật, chữ nghĩa lờ mờ, bảng lảng hồn vía và thi tứ. Một thi sĩ tài ba. Nếu anh ta là người lính đối mặt với tôi, phải bắn nhau, thì cũng phải bắn nhau thôi. Ước gì anh ta mãi mãi làm thi sĩ... Ừ biết đâu... ngày sau sỏi đá...

*
* *

Ngày sau sỏi đá... - ảnh 2

Rồi một buổi tối tình cờ... năm 1975... Nhà thơ Phạm Tiến Duật đưa tôi tới thăm Hội văn nghệ Bình Trị Thiên (26 Lê Lợi, Huế)... và gặp Trịnh Công Sơn ở đó. Gương mặt anh phảng phất nét đạo sĩ, ẩn hiện chút gì như là lực hấp dẫn tâm linh. Hèn chi, tác phẩm đầy ám ảnh. Buổi gặp bất ngờ mà thật đông mà vui, Tô Nhuận Vỹ - nhà văn, Bửu Chi - họa sỹ, Lê Khắc Cầm - giảng sư môn văn của trường Đại học Huế, cặp nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường và Lâm Thị Mỹ Dạ... Thế là, rất tự nhiên, cuộc hội ngộ không hẹn trước bỗng chuyển thành đêm thơ nhạc “Bắc Nam sum họp”. Mọi người có mặt đều vừa là diễn viên, vừa là khán giả. Người đọc thơ. Người đàn hát. Mấy anh nhà văn, nhà vẽ thì vểnh tai nghe, và hát theo Trịnh Công Sơn, những tình khúc, những bài hát tranh đấu... Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay, ta đi... vòng tay lớn...

Mãi tới hôm đó tôi mới được biết Trịnh Công Sơn còn có những bài hát yêu nước nổi tiếng, phổ biến trong phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam những năm tháng kháng chiến chống Mỹ. Ngay cả trong những bài hát mang tính thời sự ấy, vẫn thấy rõ xu hướng vươn tới cái đẹp muôn thuở, cái xu hướng mà có người chê là duy mỹ.

Những tháng cuối năm 1975, Trịnh Công Sơn vẫn ở Huế, còn tôi thì trở thành khách thường xuyên của gia đình anh ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi làm việc tại cơ quan tiền phương Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc, trong sân bay Tân Sơn Nhất, ngày chủ nhật và những buổi tối rảnh rỗi, tôi lại ra nhà Trịnh Công Sơn chơi và thường ngủ lại đó cùng với Hoàng Ngọc Tuấn (một nhà văn có tiếng, cùng tuổi với tôi, đã ở trong nhà Sơn nhiều năm, như người nhà). Ở đó, tôi đã được trò chuyện nhiều với má của Sơn, một bà má theo đạo Phật, giàu lòng thương người và tâm tưởng hướng thiện. Ở đó, tôi đã kết thân với những người em của Sơn. Tịnh và Tâm như hai cái vai của gia đình, gánh vác cơ sự cơm áo, chăm lo hết mình cho sự nghiệp của anh. Thúy và Trinh “nuôi” nhạc Trịnh Công Sơn trong nhà. Ở đó, tôi đã được cô út Trinh hát cho nghe gần như toàn bộ ca khúc Trịnh Công Sơn, nhiều bài chưa phát hành. Tình khúc lả lơi thay, vậy mà không hề vương nhục dục. Cũng lắm bài mang hơi hướng thiền luận, vậy mà không u uẩn. Phần lớn ca khúc của Sơn không nhập thế mà cũng không đoạn đời, cứ chập chờn bay lên đáp xuống, nhằm tới cái cao đẹp nửa thực nửa hư treo lửng lơ giữa thiên đường và trần gian. Ở đó, tôi mới hiểu rõ, âm nhạc Trịnh Công Sơn là từ trong nhà đó đi ra, hoàn cảnh xuất thân rất cụ thể để dấu ấn khá đậm trong phong cách tác giả. Ở đó, - tôi một nhà thơ “Việt Cộng” xa lạ, người ngợm hom hem, quần áo luộm thuộm lếch thếch... đã được mọi người trong gia đình - dù Sơn không ở nhà và không có một lời giới thiệu nào trước cả - đối xử rất ân cần với tình thân tự nhiên như người trong họ mạc. Chính ở đó, tôi đã làm được bài thơ đầu tiên của mình về miền Nam - bài Tìm thân nhân. Và tiếp theo là bài Bầu trời mặt đất bàn tay... để tặng má của Sơn, bày tỏ cảm nghĩ về mối quan hệ tâm linh tất yếu giữa mẹ - con người nghệ sỹ. Rất tiếc bài thơ này đã bị mất cắp cùng với cái túi xách treo ở tay lái xe đạp, tôi không thể nào nhớ lại được nữa, chỉ nhớ cái tên bài và một câu điệp “biết đâu... ngày sau sỏi đá”...

*
* *

Ngày sau sỏi đá... - ảnh 3

Bây giờ, Trịnh Công Sơn và tôi gặp nhau hoàn toàn không còn là tình cờ nữa. Những buổi quần tam tụ ngũ với anh em văn nghệ sĩ Thành phố Hồ Chí Minh, thường xuyên vẫn có tiết mục thơ - nhạc, thông báo sáng tác mới, hoặc những dự định, những gợi ý. Một số ca khúc mới của Trịnh Công Sơn, sáng tác từ cảm hứng trước hiện thức mới, đã được công chúng lan truyền rộng rãi - trong đó, bài Em ở nông trường, em ra biên giới (1978) được đáng kể là cái mốc đánh dấu chặng đường mới của anh. Anh đã thật sự "bắt" vào mạch đời sống hiện thực mà vẫn giữ được cái giọng riêng, cái bản sắc tươi sáng. Một vài năm trước 1975, anh hơi sa đà vào mạch thiền, bắt đầu có dấu hiện luẩn quẩn, chớm bước đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt... trên hai vai mang đôi vầng nhật nguyệt... để rồi một chiều ngồi ôm tóc dài... chập chờn lau trắng trong tay... Chính hiện thực đời sống đã giúp anh "trẻ lại", anh đi nhiều, sáng tác và hát, ở nhà trường, công trường, nông trường, ở các tụ điểm sinh hoạt xã hội của thanh niên, sinh viên và trí thức thành phố, lên biên giới, ra biển khơi, vào tận bưng biền Đồng Tháp Mười... Kể từ ngày vào ở hẳn tại thành phố Hồ Chí Minh tới nay, sắp chẵn mười năm, Trịnh Công Sơn đã có thêm hàng chục ca khúc, nhiều nhạc phim, và bài hát trong phim. Để vượt qua được những khó khăn tâm lý của chính mình, suốt mấy năm sau giải phóng, và tiếp đó là sự bắt bẻ, xét nét của không ít bạn đồng nghiệp, của một số người ở giới nghiên cứu - phê bình âm nhạc cách mạng, đối với anh là việc không dễ dàng. Nhưng dù sao thì anh cũng vượt qua được... Sự cảm thông và lòng mến mộ dành cho anh và ca khúc mới của anh ngày càng tăng lên, đó là kết quả tốt lành do chính việc anh làm mang lại. Anh chân thành và say mê sáng tạo, chân thành và say mê tìm hiểu, học hỏi đời sống, vẫn rất kỹ tính với từng nét nhạc, từng lời thơ. Có lần, anh đột ngột hỏi tôi : “Này, ông ở lâu ngoài Hà Nội, ông thấy những buổi chiều trên sông Hồng có gì ám ảnh ?... ” Tôi kể với anh về bờ đê, và lũy tre mờ xa, sương khói... Và thế rồi, trong bài Chiều trên quê hương tôi, anh chỉ chọn lấy cái bờ xa sương khói thật có hồn. Bài Mùa thu Hà Nội của anh mới chi tiết làm sao, những chi tiết khiến cho ai đã từng am tường Hà Nội đều phải sững sờ, cây cơm nguội vàng... cây bàng lá đỏ... những con đường nhỏ nằm chờ tôi qua... đột ngột, những con sâm cầm cất cánh trên hồ Tây. Rất chi là Hà Nội ! Phải kể đó là một trong những bài hát hay không phải của riêng Trịnh Công Sơn, mà là của chung Hà Nội. Với anh, có thể kể ra hàng loạt những bài hát được nhiều người yêu thích, Em còn nhớ hay em đã quên, Chiều trên quê hương tôi, Huyền thoại mẹ, các bài hát trong phim Pho tượng, phim Y võ dưỡng sinh, v.v... đều là những bài nhạc và lời tương sinh như xác với hồn, những chi tiết hiện thực đời sống được nâng lên trong xu hướng vươn tới cái đẹp lâu bền. Thì đúng là anh duy mỹ rồi ! Tôi nghĩ rằng, sự nhập cuộc của anh như thế là đúng tạng, đúng bản sắc, cái riêng nhập vào cái chung như một hạt phù sa nhập vào dòng sông, một làn gió nhập vào cánh đồng... Thay đổi luôn cả cái tạng ấy đi thì có nghĩa là mất luôn một Trịnh Công Sơn. Không thể đòi hỏi anh thay đổi kiểu ấy, cũng như không thể đòi hỏi một con chim họa mi phải đẻ ra những ổ trứng chim cút, một cành hoa phong lan phải cho những chùm quả xum xuê ăn được...

Bởi vì nghệ thuật là phong phú và đa dạng, nó vẫn còn có và dành sẵn chỗ cho những cái vu vơ thẩm mỹ và hướng thiện, như là ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau...
10/4/1987
(Rút trong tập “Tôi thích làm vua” – NXB Văn Nghệ,TP. HCM, 1987)

NÉT VÀ HÌNH

Tặng Trịnh Công Sơn

Ngày sau sỏi đá... - ảnh 4

Nét và hình chẳng riêng ai
em - thần nhan sắc trời sai giáng trần
đừng hà tiện dáng thanh xuân
em chia cái đẹp nhớ phần cho tôi

Chia dư đẹp vẫn không vơi
chia không hết đẹp ông trời lấy đi
hình và nét cũng có thì
cất làm chi dấu làm chi của trời.

Không em đời cứ đẹp thôi
có thêm em nữa nên đời đẹp thêm
thêm chút sang bớt chút hèn
nhìn em thôi đủ yêu em rất nhiều.

Yêu bằng mắt cũng là yêu
cõi đời đẹp đủ liêu xiêu cõi mình
tim tôi quen đập thùng thình
một kho sưu tập nét hình thoáng qua.

(Tháng Chạp năm Mậu Thìn 1988.- Rút trong tập thơ Quà Tặng, NXB Trẻ, 1990)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác