Ngày 8/11/1973: Nguyễn Duy nói về thơ

Gầy, đen, áo Thu Đông chiến sĩ dài quá cỡ, rộng thùng thình, 10 học viên bộ đội thông tin (1) (có Phạm Đức) lắng nghe bạn thơ trẻ nói chuyện thơ trong một gian nhà lợp lá cọ vách đất vô chủ ở Làng Láng - Nhân Chính.

- Nhân danh ai anh cầm bút bây giờ?

Đó là điều đầu tiên phải xác định khi cầm bút.

Nếu bắt đầu từ việc thu lợi, một cái lợi gì đó, cho cá nhân, là một điều thường thấy nhưng đó cũng là điều cực kỳ nguy hiểm. Nếu nhân danh người lính, cả người đang sống và người đã chết, làm chỗ đứng cho mình và lợi dụng họ để cộng thêm, làm lợi thêm, bỏ thêm vào túi mình một cái gì đó là xấu xa, tàn ác, vô lương tâm. Nhân danh nhân dân, những người lao động, những người làm ra cơm gạo cho ta ăn, nuôi sống ta mà lại dùng họ để đem lại cho ta một cái gì nữa, thì đó cũng là điều tàn ác, bất lương, tàn nhẫn quá. Buồn thay, vẫn có người viết với động cơ đó, và tiếp tục lao theo nó! Đó là những người làm hại văn chương, đưa văn chương tới ngõ cụt, chỗ cạn, chỗ chết…

Văn học, một hoạt động có ý thức của con người đầu tiên phải như một sự trả nghĩa, trả mọi ân nghĩa cho cuộc đời. Bắt đầu từ đó, giữ nó suốt đời, không biết tài năng đến đâu, nhưng anh sẽ viết được, viết bao giờ cũng đúng. Anh mong ước bằng mọi cách mang lại cho đời một cái gì,là niềm vui nhỏ, sự an ủi, làm giầu có cuộc đời bằng tri thức và tình cảm.

Đó là điều đầu tiên cần tâm niệm của người viết.

Ngày 8/11/1973: Nguyễn Duy nói về thơ  - ảnh 1
Nhà thơ Nguyễn Duy (ảnh Khánh Thư)
 

Về trường hợp ra đời bài Cây tre Việt Nam

(Trả lời câu hỏi một học viên)

Bài thơ được hình thành trong một chuyến được cử đi theo đoàn quay phim về kỹ thuật thông tin ở Hà Bắc (chuyến đi rất đáng nhớ vì đi đâu các nhà làm phim không phải trả tiền ăn, phiếu gạo).

Một buổi trưa, nằm nghỉ dưới bóng tre. Đất Hà Bắc, một vùng khô cằn, mọi thứ vàng vọt, khô khan. Chỉ có tre gốc trơ rễ mà cành xanh lá tốt um tùm. Một sức sống thật lạ. Tôi bắt đầu có tứ để tạo bài thơ.

Dĩ nhiên, trước đó, phải chuẩn bị cái gì đó trong mình.

Từ bé, tôi đã dùng búa đi chẻ gốc tre làm củi. Chẻ không biết bao nhiêu là gốc tre của nhà, thậm chí trộm cả gốc tre nhà hàng xóm, bị người ta đuổi, chửi, la hét. Tôi không nghĩ ra, không chú ý gì, chỉ khi đã lớn lên đi bộ đội, tới lúc ấy nhìn gốc tre mới nghĩ. Gốc tre mời gợi ra tứ mới, như hiện diện ra một hình ảnh làm cụ thể hoá một tư duy trừu tượng nào đó đã đeo đẳng theo mình. Gốc tre chi tiết đó như một tiếp điểm giữa tư duy tư tưởng và hiện thực đời sống. Có nó mà không được chuẩn bị về tư tưởng, ý thơ, câu thơ cũng không thể tự chảy ra được.

Cái được chuẩn bị đầu tiên là cảm xúc. Cảm xúc là cái chưa thành lời, nó tới bất chợt. Lúc đó mới tự mổ xẻ, phân chia cái gợi nên cảm xúc, sắp xếp, cấu tứ, định hình nó lại trong những câu chữ, nhịp điệu, âm vận theo một trật tự tự nhiên và kinh nghiệm sống.

Nếu chỉ triền miên theo cảm xúc như một người lêu lổng, không làm được gì, sẽ không biết định hình nó ra sao, dẫn tới đâu! Chuyện sắp xếp câu chữ là cái sau cùng, cho một bài thơ hoàn thành. Nhưng không phải, không thể là chỗ bắt đầu, không thể quẩn quanh trong đó. Thiếu nghệ thuật cảm xúc, chỉ có nghệ thuật câu chữ, bài thơ khó được chấp nhận. Có cảm xúc lớn, thiếu nghệ thuật câu chữ, vẫn cứ là thơ (thơ văn yêu nước, thơ kháng chiến, thơ bộ đội là thế).

Chỉ chữ nghĩa ông ổng, vang vang, sang sảng cả lên, chạy theo tìm được cũng vất vả đấy, nhưng cầm chắc sẽ thất bại: bạn đọc sẽ chóng quên. Tôi đã qua quá trình đó, có những bài như thế. May là không được đăng ở đâu không thì bây giờ đọc lại, xấu hổ lắm!

Chúng ta có một thiệt thòi lớn không được học. Vì tuổi trẻ chúng ta phải làm một việc lớn lao hơn: Cầm súng bảo vệ Tổ quốc! Công lao, đóng góp, những việc có thể làm, chúng ta đã hơn nhiều thế hệ. Nhưng bị thiệt thòi vì không có đủ điều kiện học hành. Dĩ nhiên là so với một số ít người được học hành chu đáo của ngày xưa, còn phần lớn, tuổi trẻ bây giờ đã được trang bị những kiến thức khác, cách nhìn đời khác. Phải nhận thức được điều đó để không có mặc cảm tự ty, xấu hổ. Hạn chế học vấn có ảnh hưởng tới việc sáng tác, khó nhọc hơn trên đường sáng tác. Nhưng trong văn học, cái chính vẫn là cảm xúc, cái gốc vẫn là cuộc đời. Đó là thế mạnh của chúng ta. Dù có thiệt thòi một mặt nào đó, cũng không nên ngại.

 

Bài thơ hay và bài thơ dở

(Trả lời học viên)

Bài thơ thấm vào người đọc, mang được cái gì đó cho người đọc là một bài thơ hay. Có thấm nhiều và thấm ít. Thấm hoàn toàn là một bài thơ hay hoàn chỉnh. Có bài thơ buồn nhưng nó làm cho con người trong sáng là có ích.

Có bài thơ tư tưởng tốt, nội dung tốt nhưng không vào lòng người là không có gì cả, vì cuộc đời còn lắm cái tốt hơn, người đọc biết nhiều tư tưởng tốt hơn, tự họ cũng đã và đang làm được những việc tốt hơn. Bài thơ thành vô ích.

Có những bài câu chữ rất ghê, người đọc ngợp đi, choáng đi trước câu chữ, nhưng đọc xong là bài thơ bay hết.

Cái thấp nhất, thứ bậc cuối cùng của cái hay là câu chữ!

Đúng ra, cũng có phần hay, nhưng đó không thể là một bài thơ hay.

Chưa nói là được một cái hay nhỏ họ làm xấu, dở đi nhiều cái khác: Tư tưởng, hình thức câu, chữ nghĩa nữa. Bởi vì chữ họ dùng trong trường hợp đó sẽ làm người đọc thành kiến.

Tôi thoá mạ chữ, nghĩa là người lạm dụng chữ nghĩa, phá hoại nó, phô trương mình như một thứ gì ngoài văn học.

Nhưng trong thơ, chữ thật quan trọng. Người xưa gọi đó là những chữ thần. Một chữ không làm hay cả bài thơ. Nhưng một chữ có thể nâng một bài thơ hay lên một tầm khác.

Bây giờ khi viết, tôi phải vật lộn rất vất vả với chữ, có khi chỉ một chữ. Chọn chữ khó nhất có lẽ là khi làm thơ lục bát.

Chẳng hạn bài Bầu trời vuông có hai câu:

Vuông vuông chỉ một chút này

Mà che trọn vẹn ngàn ngày quân đi

Chữ “chút” không vật chất, cụ thể, nó vừa xa xưa, vừa hết sức gần gũi, vừa cụ thể vừa có tâm sự, vừa che hết cả mà cứ hở hang!

Đúng là phải dụng công. Cái câu chữ phải chứa được cái mình có và có khi nó nâng cái mình có lên cao hơn. Tôi có một ít chè phải có một cái ấm vừa đủ để pha nó. Ít quá đắng. Ấm to quá lại bị nhạt, loãng. Mặc dù cái ấm không làm ngon hơn cho chén trà.

Ngày trước tôi lắm khi lác mắt trước những bài đầy chữ nghĩa. Giờ thấy mình trẻ con quá. Dĩ nhiên so với bây giờ, chứ bây giờ sẽ là trẻ con so với ngày mai. Mà nếu không thế thì thật đáng buồn.

Trong văn chương có cái hay của sự khéo léo, lại có cái hay của sự vụng về. Vụng về mà có thể rất đáng yêu. Còn đã vô duyên thì chả ai yêu được! Nhớ lại nhiều bài cũ, cứ giật mình. May là không ai dùng. Giờ bóc đi những thứ kim tuyến loè loẹt gắn vào đó, bài thơ mới được một chút gì.

 

Viết là nhận thức

(Trả lời câu hỏi học viên)

Bài thơ như một sự nhận thức. Anh suy nghĩ nhiều, nhận thức nhiều, sẽ thể hiện rõ trong bài thơ. Đó cũng là quá trình lớn lên về nhận thức của mỗi người. Nếu nhìn lại hôm qua, bao giờ anh cũng thấy mình đúng! Người bao giờ cũng đúng, thì rất có thể, tổng số rất nhiều cái đúng ấy sẽ là một cái sai khổng lồ!

Phải có năng lực phủ định mình, biết phủ định mình. Hôm nay hơn hôm qua, ngày mai lại đã nhìn, đã thấy khác hôm nay. Cuối cùng chúng ta sẽ đi tới một cái mới gần với chân lý hơn, tức gần với sự thật hơn.

Thuở bé tôi đã làm thơ. Khi lớn hơn, tôi mê thơ lãng mạn. 13, 14 tuổi quần xà lỏn, đen đủi, vác cần câu ra đồng mà miệng ngâm sang sảng Nhớ rừng:

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt

Đi học về, bố mẹ cho húp bát cháo đỡ đói lòng, vừa nghĩ ra một người yêu xa vời:

Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.

Đọc thơ người ta mà cứ như tình cảm của chính mình, không biết đâu là mình, mình là ai.

Thanh Hoá quê tôi là vùng quê, đã được khái quát rất giỏi: Thanh Hoá được mùa xin ở lại; vì lũ bão, mất mùa liên miên. Thế mà giữa đồng bằng tôi làm thơ.

Tôi trèo lên đỉnh non cao ngất

Nhìn rộng xa khắp bốn phương trời.

Tôi làm để mình thoát khỏi hoàn cảnh cơ hàn cụ thể của mình, nghĩ hoàn toàn theo cách của người khác. Ngay cả thơ dịch cũng ảnh hưởng với tôi theo lối đó. Tôi hình dung người vợ của tôi: Da bằng gang, thịt bằng chì, ruột gan bằng sắt, răng lợi chìa ra như lưỡi lê.

Có ý thức sáng tạo đấy nhưng đấy là ý thức vô thức, không hiểu nó thế nào, thích gai góc, sắc sảo, cứ nói lung bung. Cái buồn vô cớ của thơ xưa cộng với cái buồn có cớ của chính đời mình, rồi cũng chán đời phủ nhận hiện tại, tàn ác với cả chính mình.

Có những ý nghĩ tưởng là cao thượng mà rất buồn cười: Con tôi tôi thương nó quá, nên không muốn cho nó ra đời!

Tôi không sành sách vở, sống đói nghèo giữa đời sống một vùng quê thiếu đói triền miên mà để cho sách vở kéo bỗng mình lên khỏi đời thường, thoát ly, nghĩ, nhìn đời từ sách vở.

Lúc đầu vào bộ đội, bị ảnh hưởng cuộc sống sách vở kiểu đó, tôi sống khinh bạc, chê bai mọi thứ, không ép được mình vào khuôn phép quân đội. Có bé xé to, cái bệnh mê muội quá đi của một người muốn làm thơ!

Chưa biết bây giờ mình nghĩ đã đúng chưa, có thể còn có cái sai, nhưng bản thân mình bao giờ cũng có ý thức vươn về cái đúng.

Nghĩ lại những ngày cũ, thấy tiếc, vào những năm tháng đẹp đẽ, sung sức nhất lại bỏ phí trong những lựa chọn lệch lạc, lêu lổng, hoài phí! Không biết trong suy nghĩ bây giờ, những gì sẽ bị sau này xem là vô ích, thừa, phí mà bây giờ mình chưa biết.

Cái làm cho mình lớn lên là khả năng biết Nghĩ lại.

Có những cái đúng mà không biết nghĩ lại cũng có khả năng thành sai.

Cái sai cũng vậy. Đúng sai chỉ thực sự được phân định chính xác sau khi đã Nghĩ lại.

Như người yêu, yêu rất nhiều mà cuối cùng vẫn không biết tình yêu chân chính là gì nếu anh không biết, không bao giờ biết Nghĩ lại.

 

Tư cách người viết

(Trả lời học viên hỏi)

Khi đặt bút viết một mẩu tin, một bài ca dao, một chuyện người tốt việc tốt đều cần tư cách, thiếu nó, không có khả năng khen chê cho đúng. Tư cách có khác sinh hoạt; Có phần tư cách bộc lộ trong sinh hoạt, nhưng sinh hoạt không hoàn toàn là tư cách. Một người viết không thể chỉ nhìn vào sinh hoạt mà đánh giá tư cách, bởi có khi đúng được 70-80% nhưng cũng có khi chỉ vài chục %. Người viết cần có một cái nhìn kỹ càng hơn. Cái phân định tư cách là lương tâm.

Trong suy nghĩ, nên có trách nhiệm với đời sống. Dám khen cái đáng khen, chê cái đáng chê, phê phán cái cần phê phán mà không sợ bất cứ thành kiến nào dù có ảnh hưởng quyền lợi vật chất cụ thể. Anh dám nói, dám viết và có trách nhiệm với điều anh thấy là đúng.

Lương tâm còn là tránh thị hiếu thời thượng, viết theo cái mọi người đang thích, khen cái người ta khen dẫu riêng anh thấy dở.

Anh có thể sống nghiêm túc, đứng đắn nhưng rất có thể trong văn chương anh lại là người mất tư cách và đảo lộn trắng đen phải trái, khen chê những điều không hợp với lương tâm mình, chưa nói là anh không có khả năng có một lương tâm đúng.

Tôi từng có kinh nghiệm như thế.

Dạo làm ở Tuyên huấn Bộ Tư lệnh Thông tin, tôi được cử đi viết một tấm gương người tốt việc tốt. Có một chiến sĩ có thành tích cứu hai đứa trẻ trong một trận bom. Tôi tìm hiểu sự việc. Nhưng biết viết sao cho ra người tốt bây giờ?

Sự thật là khi nghe tiếng bom, anh ta sợ quá vội vàng bỏ chạy, quên cả mang theo súng. Khi ngừng một đợt bom, sợ bị kỷ luật, anh ta chạy vào nhà lấy súng. Chính lúc trở lại đó, anh thấy hai đứa bé sợ quá đang khóc thét, và anh ta đã đưa được hai đứa bé ra hầm trú ẩn. Nếu viết thật như thế thì còn gì? Thế là phải hư cấu:

Sự thật là……………….Tôi phải viết là……….

Sự thật là……………….Còn trên trang giấy là……

Tôi phải viết vất vả, khó nhọc nhưng cũng được một bài báo.

Nếu tính về sự nghiêm túc, bài viết của tôi đã không bị chê trách vào đâu cả.

Một trường hợp khác kết cục còn bi thảm hơn.

Có một đồng chí bộ đội thông tin người dân tộc bị thương trong một trận bom. Nhưng đơn vị cần một bài báo viết là anh ta đã chiến đấu rất gan dạ và có những biểu hiện dũng cảm trong trận đánh trả.

Bài tôi viết sinh động, được một nhà xuất bản khen, in lại. Một nhà đạo diễn đã về làm phim tài liệu về một người tốt việc tốt đặc sắc, và theo bài tôi viết, bắt anh ta đóng lại cái cảnh mà thực ra anh ta không hề làm. Điều bất ngờ là sau đó anh ta được tuyên dương anh hùng mà những thành tích chi tiết ghi trong văn bản tuyên dương là những điều tôi bịa ra trong bài báo.

Khi xem phim thấy anh ta diễn mà ngượng, ngẫm lại càng ngượng. Được tuyên dương mà anh em trong đơn vị, những người hiểu biết anh ta hơn ai hết đâm ra coi thường anh. Và họ coi thường luôn nhân cách người viết, coi thường luôn cả những chuyện người tốt việc tốt khác. Họ nghĩ rằng những người viết khác đều thế cả.

Tôi không phải là thủ phạm duy nhất mà là một trong những thủ phạm của một vụ lừa đảo lớn.

Mà chuyện đó có hoàn cảnh cụ thể của nó: Đây là việc làm đáp lại nghĩa cử của cấp trên. Đơn vị cho đi, tốn bao thời gian, tiền của thâm nhập thực tế mà không viết được gì ư? Lại được dịp về gần nhà, chả lẽ không viết được sẽ bị thủ trưởng coi thường, anh em phê bình. Viết được tốt sẽ được lòng thủ trưởng, được anh em biết khả năng mình. Soi xét lại, không thấy động cơ chân chính, lý do cầm bút nghiêm túc ở đâu cả. Chỉ tự an ủi là mình không cố tình gây ra một vụ tày đình như thế, như một đứa trẻ can tội ngộ sát.

Lao động công phu, nhiệt tình, bài viết được sử dụng, được khen, đến mức dựa vào đó người ta dựng phim, người viết được nhiều người biết đến. Liệu tôi có trả về được cho cuộc đời cái gì có ích không nhỉ? Tôi là người có nhân cách chăng? Tôi đã tiến hành chặt chẽ mọi khâu cần thiết rồi? Nhưng sau tất cả, nhìn lại, cuối cùng tôi hiện ra là một kẻ mất nhân cách, một tên lừa dối chính cống. Tôi vừa hoàn thành một vụ buôn chợ đen! Mọi người nuôi tôi, mà tôi lừa mọi người, và đã trả cho đời một món quà dối lừa, dối cả những anh em, đồng chí, đồng đội của tôi.

Những gì tôi viết hôm nay có thế không? Liệu mai sau có ai bị tôi đánh lừa thế không?

Tôi chỉ biết tự an ủi, quả là do tôi mắc tội một cách vô tình. Tôi chưa dùng nó làm cái thang leo lên để kiếm bổng lộc, cấp bậc, chức vụ, mưu mô gì. Nhưng liệu có vì thế mà tôi ít tội hơn không?

Tôi biết nói gì với đồng chí, đồng đội tôi? Những người còn sống, tôi xin lỗi họ được, sửa chữa bằng chính những điều viết hôm nay được. Nhưng với những người đã chết, những người biết rõ sự việc đó đã nằm sâu trong lòng đất, tôi không bao giờ còn nói lời hối hận được.

Sau này, khi được giao viết tiếp một bài ký hay thơ về người đó, tôi đã không nhận…

Làm một bài thơ dở, viết một truyện ngắn dở, chẳng có ích cho ai. Có lãng phí sức lực, giấy mực, công đọc của bạn bè, nhưng thời nay, những cái đó thường thôi. Nhưng viết giả dối? Có cái giả dối vụng về còn đáng thương hại. Nhưng giả dối có nghệ thuật là một tội ác, càng có nghệ thuật, càng được nhiều người biết, càng nguy hiểm.

Những tội ác có thể xử còn có giới hạn, có thể chỉ mặt, đặt tên.

Đây là tội ác không thể xử?

Những tội ác xử được: quá lắm là giết người, một số người.

Nhưng tội ác này làm hư hỏng bao nhiêu người? Nào có ai xử? Và càng không xử nó càng hoành hành.

Mong rằng, đây là điều đầu tiên, người viết phải nghĩ đến khi cầm bút. Ngòi bút ư? Cây súng ư? Ai làm đổ máu nhiều hơn? Nhưng nói đổ máu là gì? Là giết những con người, những cuộc đời, những tâm hồn, cả một thế hệ? Đó là sức tàn phá của ngòi bút đấy.

Nhân cách là cái giữ cho ta làm người.

Khi phê phán chê bai ai, anh phải là một ca nhân có nhân cách. Nếu chỉ chen vào một ý đồ nhỏ, thiển cận, anh sẽ bộc lộ cái sai. Nhân cách như đỉnh nóc một mái nhà, bên này lên tới đỉnh nhưng lệch sang bên kia một tí là anh có thể tụt hoặc lăn xuống dốc tầm thường, hư hỏng.

Lắm khi tự thấy mình chửi bới, phê phán những hiện tượng xã hội một cách chung chung, nhưng nghĩ lại thấy sai vì đó chỉ là nhũng cái nhỏ, của một bộ phận. Chúng ta còn nhiều cái sai, cái xấu lớn hơn. Anh có thể chống một cá nhân dù người đó cấp to đến đâu, nếu họ xấu, họ không tốt. Những ai từ đó chống lại lý tưởng của chúng ta, việc chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội là không được, phải chống, phải đấu tranh.

Không có lý tưởng xã hội nào nhân đạo hơn Chủ nghĩa cộng sản. Cũng không có lý tưởng xã hội nào tôn trọng con người hơn Chủ nghĩa cộng sản.

Nếu trung thực và có lý tưởng vì một sự nghiệp lớn, sớm muộn anh cũng nhận ra đúng sai hay dở. Nhưng nếu vì ích kỷ cá nhân anh sẽ không bao giờ nhận ra sai đúng hay dở, không bao giờ phạm tội, nhưng cả cuộc đời là một tội ác lớn. Người có lúc này lúc khác, sai phạm nhưng anh biết hi sinh cho cái tốt. có những người hoàn toàn tốt nhưng suốt đời hi sinh cho cái sai, khi chọn một lý tưởng sai.

*           *

*

Tối ngày 8/11/1973

Ăn tối ở Bộ Tư lệnh Thông tin. Gian phòng học ban ngày, điện tắt. Và hiện ra ngoài sân đầy rơm vàng kia là một trời trăng sáng. Cả bọn đưa nhau tới nhà Nguyễn Duy: Một ngôi nhà có kiến trúc khác lạ lọt vào giữa làng quê. Nhà một tầng nhưng có sân thượng mái bằng. Cùng nhau trèo lên trên sân ngồi trò chuyện, có lớp trưởng sáng tác, một cán bộ thông tin, Phạm Đức, Hồng Duệ ở Nhà xuất bản Quân đội, Ái Thu- cô chiến sĩ thông tin ở Lạng Giang, quê Phú Thọ bọn mình từng quen khi đi thực tế qua hết các Đài trạm Thông tin phía Bắc (Thu từng có bài thơ rất lạ: Tiễn cành hoang lá dại:

Từ lá hoang cành dại

Từ lá dại cành hoang

Từ lá cành hoang dại

Từ hoang dại lá cành...)...

Duy ở một phòng rộng, nghèo nàn: Phản không có chiếu, không có phích nước, tủ bàn gì. Một tấm phản kê làm bàn. Ở đó, mấy năm nay anh ta viết ra những bài thơ được nhiều người khen ngợi.

Suốt chiều, cậu ta nói chuyện với lớp học như một người say.

Buổi tối, vẫn với tâm trạng hưng phấn đó, Duy trò chuyện rồi đọc thơ. Ở con người này, điểm nổi bật là cái ý hướng muốn sống trong sáng, có ích với nhiều trăn trở, nghĩ suy, dằn vặt.

Đang học dự thính năm thứ ba Khoa Văn - Đại học Tổng hợp.

Trước mắt Duy là những học sinh ít yêu văn học. Họ xem văn học, đi học như một phương tiện đầu cơ, chạy chọt. Những người dốt, vô tâm bất tài không đáng sợ bằng những kẻ trau dồi khả năng văn chương để đầu cơ kiếm lãi.

Duy vẫn làm những bài thơ mà cậu ta thấy là thật. Có bài buồn nhưng không dễ nói: Trở về với khúc hát ru. Đó là chuyện một anh chiến sĩ vừa cưới vợ xong phải đi chiến trường. Tám năm xa cách, anh mong ước hạnh phúc, có một đứa con, một mái ấm khi sum họp. Sau tám năm xa cách, yêu thương và mơ mộng. Ngày anh trở về, vợ đã sinh một đứa con hơn một tuổi. Đau đớn nghẹn ngào, không thể nói! Anh đi giữ gìn hạnh phúc cho mọi người. Nhưng hạnh phúc của mình, anh có giữ được đâu. Người vợ chỉ biết khóc vì lầm lỗi. Anh nghĩ, chúng ta khóc nhiều rồi - khóc làm chi nữa cho thêm tội. Nhưng không thể yêu thương. Giữa hai vợ chồng giờ là một đứa trẻ lạ.

Chạnh nhớ lời mẹ ru anh xưa: Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn..

Rồi cuối cùng anh cũng ôm đứa trẻ vào lòng, hát ru nó ngủ. Nhưng biết ru lời nào?

- Bài Ru con trong cơn bão: Tặng con những ngày bão đổ bộ vào Thanh Hoá, buồn lo nhưng dễ được chấp nhận hơn.

- Nghĩ về sứ mệnh nhà thơ: Bến xe Thanh Hoá! Có bà mẹ Triệu Sơn dắt đứa con sáu tuổi ra nhờ bà con cô bác nào nuôi giúp. Anh, anh có gì để nuôi? Một đời anh làm thơ ca ngợi, nói bao nhiêu chuyện cao siêu. Nhưng với đứa bé thật đó, một con người đang đói thật đó, anh có gì để nuôi? Anh ngẹn ngào nhận cho mình ánh mắt tuyệt vọng.

- Đứng lại: Chuyện một anh bộ đội truy kích một thằng giặc.

Anh muốn nó sống, còn cuộc đời, còn bao người chờ nó. Có súng trong tay anh không bắn. Đuổi theo, bắt nó đứng lại. Dù như thế, có thể nó sẽ quay lại bắn anh.

- Dự kiến viết một bài thơ dài về vĩ tuyến 17. Một tập thơ gồm những lá thư của người lính ở mặt trận gửi về.

- Bài kể tiếp chuyện của Bà: Bà xưa tin chuyện ở hiền gặp lành. Cháu lớn lên trong niềm tin lớn ấy của Bà. Ra trận, cháu thương Bà đã 80 tuổi vẫn phải đi sơ tán, chạy đạn bom. Một đời Bà ở hiền mà không có một ngày vui. Chúng cháu ra trận, đánh đuổi giặc thù, để cho ao ước ấy của bà có ngày thành hiện thực.

Mải mê thơ phú, đã khuya lắm mới dứt ra về.

Đường từ ngoại ô về thành phố vắng vẻ, yên tĩnh như đất nước này đang không có chiến tranh. Cuộc chiến chỉ thật sự đang tồn tại trong tâm trí những người lính đang cầm bút như Duy.


Nhà văn Ngô Thảo chép lại 15-4-2008 (Giỗ tổ Hùng Vương)

------------

(1) Nguyễn Duy vốn là lính ở một đơn vị thuộc Bộ Tư lệnh Thông tin

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác