Mường Mán, nhà văn 5 trong 1


Phải nói nhà văn Mường Mán rất đa tài. Nếu gọi ông là nhà văn thì hẳn nhiên rồi, vì ngay từ năm 1974, khi mới 25 tuổi, ông đã xuất bản hai tập truyện dài “Lá tương tư” và “Một chút mưa thơm”. Những câu chuyện này được in rải rác vào những năm đầu của thập niên 70, theo đơn đặt hàng trên báo “Tuổi Ngọc”, một tờ báo cho tuổi học trò ngày đó.

Ông viết như trời định vậy, và có thể nói ông sinh ra để viết loại văn học trò; bởi ngay từ đầu giọng văn trẻ trung hồn nhiên trong “Lá tương tư” đã có sức cuốn hút giới bạn đọc trẻ. Đó là một câu chuyện kể của một chàng trai mới bước vào đời với bao mơ ước, rung động với cuộc sống thơ mộng. Trước mắt chàng là những hình ảnh đẹp và tình si với mọi cái đẹp của cuộc sống. Giờ đây chàng ngoảnh lại và soi mình với mái tóc mượt bóng lãng mạn, đôi khi còn khờ khạo, ngỡ ngàng trước cuộc đời. Câu chuyện được sắp xếp không theo một trật tự nào mà nó ngổn ngang theo cảm xúc và ký ức đẹp, đồng thời lại bay bổng theo trí tưởng tượng, thể hiện một phong vị văn chương của tuổi niên thiếu. Với tác phẩm “Một chút mưa thơm” cũng có sự lay động như vậy. Các bạn trẻ đón nhận nó như một món quà cho riêng mình, vì họ tìm thấy ở đây những điều mà họ đã từng mơ, từng nghĩ và đã từng thổn thức với những ký ức thở thiếu thời.


Mường Mán, nhà văn 5 trong 1 - ảnh 1
Nhà văn Mường Mán (ảnh nhavantphcm)


Ấy thế rồi cuộc mưu sinh đã đẩy ông vào những lo lắng, kiếm tìm đầy cam go cho miếng cơm manh áo của gia đình, kéo dài khá lâu. Và thật kỳ lạ sau gần 15 năm, ông cầm bút trở lại, và trở thành một hiện tượng văn chương cho đối tượng bạn đọc tuổi mới lớn, đúng như cái thuở ông bắt đầu xuất hiện. Trẻ trung, lung linh chất thơ và tràn đầy cảm xúc với mọi hình ảnh của cuộc sống đáng yêu đang diễn ra hàng ngày.

Ông liên tục cho ra mắt tới hơn hai chục tập truyện khác và trở thành một trong những tác giả rất ăn khách, với các tác phẩm viết cho tuổi teen như: “Ngon hơn trái cấm”, “Bâng khuâng như bướm”, “Thương nhớ người dưng”, “Mùa thu tóc rối”, “Trộm trái vườn người”, “Trăng không mùa”… Đáng chú ý, ông đã được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, năm 1991, chỉ mới 3 năm cầm bút trở lại, quả là một gương mặt độc đáo. Và, 10 năm sau ông còn được nhận Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, với cuốn tiểu thuyết “Muối trăm năm”.

Hay, nếu gọi Mường Mán là nhà thơ thì cũng chẳng hề sai, bởi lẽ khởi đầu sự nghiệp văn chương, ông làm thơ là chủ yếu và còn nổi tiếng sớm hơn, từ năm 17 tuổi, nhờ bài thơ tình “Qua mấy ngõ hoa”. Người đọc có thể nhận ra ngay giọng thơ của cái hồi xưa của ông qua những câu thơ tình đại loại như:

“Sáng nay anh thấy mộng rất đầy

Mộng về theo những cánh me bay

Bay từ vai quên sang vai nhớ

Xanh cả hồn anh bé có hay?”

Và, bài “Qua mấy ngõ hoa” gây xúc động giới trẻ cũng từ cái chất rất Mường Mán này. Bài thơ dài tới 18 khổ 4 câu có một cấu trúc tự nhiên như một lời bày tỏ cho một cuộc tình. Dường như thời đó nhiều người thuộc cả 72 câu, hoặc chí ít ai đó cũng có thể đọc ngay một khổ thơ mình tâm đắc nhất:

“Chim vỗ cánh nắng phai rồi đó

Về đi thôi O nớ chiều rồi

Ngó làm chi mây trắng xa xôi

Mắt buồn quá chao ơi là tội”

Mường Mán làm thơ từ rất sớm, nhưng lại bận rộn với hàng chục tác phẩm văn xuôi và những lĩnh vực sáng tạo khác, nên không để ý tới việc tập họp thơ để xuất bản. Nhưng thật may mắn sao, ông đã được nhà văn Đoàn Thạch Biền, người bạn viết cùng thời thân thiết đã đứng ra làm mọi chuyện từ khâu chuẩn bị bản thảo đến in ấn. Câu chuyện cho dù muộn mằn, tức là hơn 30 năm sau, khi bài thơ “Qua mấy ngõ hoa” ra đời, Mường Mán đã trình làng tập thơ đầu tiên, có cái tên rất gọn là “Vọng”. Rồi mãi tới năm 2008, ông mới cho in tập thơ “Dịu khúc” gồm 100 bài lục bát, trong đó có in lại một số bài nổi tiếng như “Qua mấy ngõ hoa”, “Chăn vịt ở phương Nam”, “Con gái”, “Về bến xuân xưa”… Đặc biệt trong tập thơ có bài viết về Hà Nội với một cảm xúc rất kỳ lạ qua bài “Chút mùa thơm” và rất đặc trưng cho thơ của Mường Mán. Người đọc chắc không thể quên:

“Hà Nội gửi chiếc hôn chúc phúc

Đến những hẹn hò

Bên Hồ Gươm

Em xinh xắn và em hư ảo

Bước ra từ

Phố Phái mờ sương…”

Hoặc nếu xướng tên ông trong hàng ngũ những người biên kịch điện ảnh thì lại càng chuẩn, vì trong tay ông có tới mươi phim được công chiếu và cũng rất thành công. Trong đó có những phim rất nổi tiếng như “Người trong cuộc”, “ Chuyện ngã bảy”, “Trăng không mùa”, “Duyên phận” (12 tập), “Gió qua miền tối sáng" (30 tập)…

Đặc biệt bộ phim “Người trong cuộc” (1987), ông viết về nhóm bạn sinh viên cùng tham gia phong trào đầu tranh đô thị ở Sài Gòn, sau đó kẻ ở lại, người lên rừng. Trong và sau chiến tranh, tình bạn của họ bị chi phối bởi những xung đột tình cảm, sự giằng xé giữa lý tưởng và thực dụng, chân thật và đối lừa… Bộ phim đã tạo được dư luận khá sôi nổi và trái chiều ngay từ khi phim mới trong thời điểm duyệt chiếu. Sau đó bộ phim đã được Giải thưởng đặc biệt của ban Giám khảo Liên hoan Phim toàn quốc tại Nha Trang, năm 1990.

Và, nếu nói ông đích thị là một “Nhà” hội hoạ thì cũng rất thoả đáng vì nghề trình bày sách ở Công ty Văn hoá Phương Nam và vẽ tranh minh hoạ cho tập san “Áo trắng” đã nuôi sống ông trong hơn mười năm trời cho đến khi về hưu năm 2007. Hơn nữa, ông lại mới mở cuộc triển lãm tranh “Đôi lứa và mặt đất muôn mầu”, tại nhà hàng của gia đình với hơn hai chục tác phẩm sơn dầu khá độc đáo qua phong cách trừu tượng, tạo được dư luận trong giới mỹ thuật.

Ông có trong tay bốn “Nhà”, nhưng ông còn là một “Nhà” nữa, lại cũng rất hiên ngang như ai; đó là “Nhà” doanh nghiệp. Hiện ông có một cửa hàng chuyên bán các món ăn của xứ Huế, quê hương ông. Ông lấy cái tên quán rất ngộ, chỉ có một chữ: “Ruốc”. Đây là tên của món mắm độc đáo chỉ có ở Huế.

Cũng như bút danh của ông vậy- Mường Mán. Ông có tên cúng cơm là Trần Văn Quảng, nhưng cái máu giang hồ và lãng mạn luôn luôn thường tực trong con tim; khi xúc động với một câu chuyện tình xảy ra tại ga Mường Mán, tỉnh Đồng Nai, trong truyện ngắn của Tô Thuỳ Yên, thế là ông ngẫu hứng lấy luôn cái tên Mường Mán để làm danh xưng cho các tác phẩm của mình; ngay từ những bài thơ đầu tiên in trên báo Văn, năm 1965, khi đó ông vừa tròn 18 tuổi.

Máu kinh doanh của ông và gia đình có từ khi còn trẻ. Theo như ông kể có thời từ những năm cuối thập niên 70 của thế kỷ trước, cái đận gia đình ông lập nghiệp tại Cần Thơ, vợ ông đã từng buôn tem phiếu, còn ông nhận việc đi mua gạo đem đi bán ở các chợ… Mãi sau này được chuyển về TP. Hồ Chí Minh, gia đình ông mới mở cửa hàng chuyên ẩm thực Huế.

Có chuyện một dạo, giá thuê cửa hàng tăng nhanh, ông có nguy cơ bị chủ nhà đòi lại mặt bằng, ông bèn kêu gọi anh em bạn bè mách cho địa điểm mới. Ông lại dùng thơ để rao trên mạng và gửi tới mọi người rằng:

“Bắc thang lên hỏi mặt trăng

Hằng Nga ơi có mặt bằng cho thuê?”

Ông còn cho số điện thoại để ai tìm được báo cho biết. Thế rồi giời có mắt, mọi chuyện đâu lại vào đấy. Mỗi ngày công việc làm ăn của ông càng vượng. Hiện cửa hàng ông có tới 50 món đặc sản của vùng cố đô xưa. Tất cả nguyên liệu chế biến, ông đều cho mua và chuyển từ Huế vào. Mùa nào thức đó tươi ngon, thơm ngọt. Đặc biệt cửa hàng nổi tiếng với các món hến, cá ngạnh, hoặc cá mép gân bò, rượu làng Chuồn chính gốc quê, nơi ông sinh ra. Do vậy quán “Ruốc” chiều tối nào cũng đông khách, cho dù chỉ ở trong một con hẻm của phố Nguyễn Văn Trỗi, quận Phú Nhuận.

Thật thú vị, ông có cách tiếp thị và quảng cáo cho thơ của mình cũng rất “độc”. Nếu có thực khách nào thanh toán hoá đơn từ 500.000đ trở lên là ông tặng tập thơ “Dịu Khúc”, kèm theo chữ ký của tác giả. Nhất là các khách Việt kiều, mỗi khi về nước đều tìm đến quán Huế của ông và mong được tác giả tặng sách, bởi có nhiều lớp người trước đây đều thuộc bài “Qua mấy ngõ hoa”. Trong số đó có không ít các quý ông, thời còn trẻ đã từng học mang bài thơ này đi tỏ tình với các cô gái mình yêu, với những câu tình tứ: “Tay nhớ ai mà tay bối rối - Áo thương ai lồng lộng đôi tà - Đường về nhà qua mấy ngõ hoa - Chớ có liếc mắt nhìn ong bướm…”.

Giờ đây công việc của ông tại cửa hàng là tiếp khách, nói những câu chuyện về quê hương và tả những món ăn làm cho mọi người cứ xuýt xoa thắc thỏm. Họ luôn luôn muốn nán lại để ngắm những cô gái đẹp và đầy bí ẩn trong tranh ông và nghe những khúc tình ca dịu dàng lắng sâu của Trịnh Công Sơn, một người con của đất Huế cùng ông cả một đời tha hương luôn nhớ về quê mẹ…

Vương Tâm

(Trích tập “Nước mắt thời gian”)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác