Một nhân cách văn hóa



(Toquoc)- Giáo sư- Tiến sĩ- NSND
Đình Quang, mà từ trước tới nay tôi vẫn gọi là Thầy theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nghĩa đen vì tôi chỉ được học Thầy có “nửa chữ” thôi (bán tự vi sư). Nhưng theo nghĩa bóng dù chỉ có “nửa chữ” cũng trở thành một phần không thể thiếu trong hành trang tôi đi suốt cuộc đời. Thầy Đình Quang là một bậc thầy hiếm hoi mà tôi được gặp, được học và được đọc từ khi bắt đầu biết đi làm “cán bộ nhà nước”.

 Một nhân cách văn hóa  - ảnh 1

Chân dung một người thầy

Tôi biết Giáo sư- Tiến sĩ- NSND Đình Quang cách đây ba mươi năm có lẻ. Chẳng là dạo ba người chúng tôi mới tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp, cùng về Viện Triết công tác, nên rất hay lui tới nhà thầy Đình Quang để “tầm sư học đạo”. Hồi ấy, nhà Thầy ở khu Giảng Võ, ngay cạnh đường, đầu phố Núi Trúc, rất dễ tìm. Có hôm, mải nghe Thầy “giảng đạo” quên mất giờ về. Ba chúng tôi trở thành những vị khách không mời bất đắc dĩ dùng luôn bữa tối ở nhà Thầy do chính Cô (vợ Thầy là cô giáo dạy piano) nấu. Thời buổi vừa khó khăn về kinh tế, bụng lúc nào cũng lép kẹp, lại được vị “đầu bếp” có hạng mời dùng bữa, sao mà ngon thế. Thầy và ba chúng tôi vừa ăn vừa hàn huyên thật sự thoải mái, có lẽ vì thế mà ngon, chứ cần gì cao lương mỹ vị (?). Cô dùng xong, mời mọi người, rồi đứng dậy dọn dẹp, còn bốn thầy trò chúng tôi cứ thế mà “nổ”, chẳng còn biết đâu là trời đất.

Gần đây, người học trò “khiếm nhã” lại được thầy tặng tập sách “Tạp văn”, vừa được Nxb Sân khấu tái bản năm 2012, khiến tôi càng thấy mình có lỗi vì chừng ba mươi năm nay chưa đến thăm thầy, nhất là khi biết được thầy đã vượt cái ngưỡng “thất thập cổ lai hy” tới 10 năm, để trở thành “chuối chín cây” rồi còn gì.

Có một sự thật mà tôi không thể giấu được lòng mình, càng không thể giấu được thầy Đình Quang là từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi Trường Cao đẳng Nghệ thuật Sân khấu Trung ương được nâng cấp lên thành Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh, thầy Đình Quang được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng đầu tiên, rồi sau đó thầy lên làm Thứ trưởng Bộ Văn hóa- Thông tin, tự dưng tôi thấy ngại gặp Thầy, không biết vì lý do gì, mặc dù có đôi lần bạn bè rủ rê.

Hôm nay, đọc cuốn “Tạp văn”, tôi lại hình dung ra một người Thầy ba mươi năm về trước có vóc dáng nhỏ, hơi gầy với cặp kính cận, đi lại nhanh nhẹn và giọng nói trầm ấm và vang mỗi khi có học trò đến nhà. Trước đây, tôi chưa bao giờ biết thân phụ của Thầy là anh em cọc chèo với nhà văn hóa Việt Nam Trần Trọng

Kim.

Thời ấy, chúng tôi toàn học những kiến thức Tây (Liên Xô cũ) nhất là các môn bắt buộc như Triết học, Chính trị học, Chủ nghĩa Xã hội khoa học và Lịch sử Đảng... nên mỗi khi đến nhà thầy toàn dở “chuyện Tây” lỗ mỗ vừa học được ở trường ra để “tranh luận” với nhau. Chúng tôi nào có biết khi đến nhà, thì thầy đã là Tiến sĩ nghiên cứu về kịch gián cách của đạo diễn lỗi lạc người Đức Bertolt Brecht. Thầy vẫn có thói quen gợi chuyện để chúng tôi tự tranh luận với nhau, còn thầy chỉ ngồi tủm tỉm cười nghe các học trò bàn tán. Khi nào thấy tình thế “bất phân thắng bại” Thầy mới nhẹ nhàng giảng giải, khiến chúng tôi ai cũng thấy mình đúng và tất nhiên ai cũng thấy mình sai, thế mới lạ chứ. Sau khi nghe Thầy phân giải ba chúng tôihết đường” đành ngồi im vì tâm phục khẩu phục.

 

Những ước vọng đơn sơ

Tập “Tạp văn” dày gần 400 trang, gồm 43 bài viết, chủ yếu là những câu chuyện, sự việc mà thầy Đình Quang đã từng trải nghiệm và còn đọng lại trong tâm trí. Cầm trên tay tập sách, tôi đọc ngấu nghiến một mạch. Cảm nhận đầu tiên vẫn là những gì tôi từng biết, từng nghe và từng học được ở Thầy cách đây hơn 30 năm về trước. Đấy chính là sự giản dị, trong sáng đến mức không thể giản dị và trong sáng hơn trong mỗi sự việc, con người và vấn đề Thầy kể lại qua từng con chữ, trang sách. Không biết có phải khi người ta đã đi qua mọi cái phức tạp, cao siêu, mọi sự nhiễu nhương vốn có của cuộc đời này, thì mới có thể đạt đến (hay quay trở về?) với những điều giản dị nhất? Nói một cách khác, khi ấy người ta mới trở về với bản ngã của chính mình như một lẽ tự nhiên, thường tình. Thầy Đình Quang là như thế. Không tin, mọi người cứ đọc thật chậm cuốn “Tạp văn” thì sẽ rõ.

Trước hết, đấy là niềm day dứt và ước vọng giản đơn khi nghĩ về một miền quê để nhớ. “Chạnh nghĩ, tám mươi năm tuổi đời, lăn lộn đã nhiều, ngược xuôi cũng lắm, nước trong nước ngoài đủ cả, nhưng vẫn tiếc là đời mình đã không có một quê hương thực sự gắn bó để thương để nhớ” (Day dứt quê hương!- tr. 27). Còn gì não nề và xót xa hơn thế, nhất là khi Thầy đã ở tuổi xế chiều!

Đấy cũng là nỗi nhớ những người bạn đồng tuế hay vong niên, nhưng chắc chắn đều là những tài năng lớn về lĩnh vực văn chương- nghệ thuật, như: nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, nhà thơ Chế Lan Viên, đạo diễn Xuân Trình, các nhà khoa học Huỳnh Khái Vinh, Nguyễn Hồng Phong, Ngô Y Linh, Ngọc Linh... Không nhớ sao được, thời kỳ đầu Cách mạng tháng Tám, những người thuộc phong trào Thơ mới như Chế Lan Viên đang chuếnh choáng tìm đường theo Cách mạng qua/bằng nghệ thuật. Có là một tài năng thơ, mới 17 tuổi đã cho xuất bản tập “Điêu tàn” với những câu thơ ám ảnh bao thế hệ “Bóng ma Hời sờ soạng dắt nhau đi” mới thấy đây thật sự là một sự hóa sinh ghê gớm và táo bạo, một cuộc lột xác về nghệ thuật.

Có lẽ vì lẽ đó mà những người như Chế Lan Viên đã từng phải “cai” thơ một

thời gian cho mãi đến “Khi gặp mặt các văn nghệ sĩ về trại “Tu dưỡng văn nghệ” ở

Cùa (Cam Lộ, Quảng Trị) anh Hoan (nhà thơ Chế Lan Viên- Đ.N.Y) và Thanh Hải phụ trách ban văn thơ, tôi (thầy Đình Quang- Đ.N.Y) phụ trách sân khấu... “Tinh thần văn nghệ Diên An” bao trùm không khí của trại”... “Nhiều lần mải bàn chuyện văn thơ hai người cứ quần xắn ngang bẹn đứng dưới sông (Ba Lòng- Đ.N.Y) mà trò chuyện cho tới lúc bà con giặt giũ ven sông sợ chúng tôi bị cảm lạnh giục chia tay mới thôi” (tr. 87- 88).

Chính trong dịp này thầy Đình Quang đã khơi lại niềm đam mê sáng tạo nghệ thuật trong lòng chàng trai Chế Lan Viên đang dần nguội tắt. Để rồi một ngày không xa, Thầy quyết định đem bài thơ “Nhớ lấy để căm thù” của Chế Lan Viên ra ngâm cho toàn trại nghe. Lúc đầu nhà thơ Chế Lan Viên hơi sợ, phải tránh mặt nghe lõm. Nhưng sau thấy mọi người vỗ tay tán thưởng thì nhà thơ mới nhẹ người. Và không ngờ từ đấy Chế Lan Viên trở lại con đường sáng tác thơ và trở thành một trong những đỉnh cao của thơ ca Cách mạng. Qua việc làm với một con người cụ thể, thầy Đình Quang đã rút ra một kinh nghiệm để đời về cách ứng xử với những người có tài thực sự qua bài “Tài năng lớn vẫn cần những khuyến khích nhỏ” (tr. 84- 90).

Đọc xong câu chuyện “Thời của một người” tôi thật sự thấy ám ảnh lạ thường. Dù truyện này được xếp trong tập tạp văn, nhưng theo tôi đây là một truyện ngắn rất hay. Bởi lẽ, không chỉ có sự việc, hiện tượng mà “Thời của một người” còn có cốt truyện và cấu trúc chặt chẽ, có nhân vật chính và các nhân vật phụ, có không gian và thời gian xảy ra sự việc. Nhưng điều quan trọng nhất là mỗi nhân vật đều có số phận hẳn hoi. Lạc là người có giọng hát bẩm sinh, chỉ vì điều ấy mà khiến anh lao đao, khốn khó. Đã lâu rồi vì mưu sinh nên anh chẳng còn bụng dạ nào để tâm đến ca hát. Một lần, sau khi lĩnh được mấy đồng tiền công nhật, xà vào quán uống nước thấy con trai chủ quán có cái đài đang hát bài “Niệm khúc cuối”, như làm thức dậy nỗi sợ hãi trong anh vì chính bài hát ấy mà đời Lạc mới ra nông nỗi này. Khi cậu con trai chủ quán cố tình vặn to đài lên. “Anh cầm khư khư cái cái cốc chè uống dở trên tay, người rũ ra, đầu như tụt giữa hai vai. Vì những bài hát như thế này, anh đã lấy được vợ, rồi cùng vì bài hát này, anh lại mất vợ và mất luôn cả việc làm” (tr. 47).

Một người có tài ca hát như Lạc không gặp thời, cuối cùng mất tất cả và chết thảm trong cô độc. Khi chết rồi, mà sao như vẫn nuối tiếc cuộc đời này. “Đôi mắt của Lạc, tuy đã được vuốt bằng rượu, nhưng không khép hẳn được. Mỗi khi nến bùng sang hơn, ông Điều lại có cảm giác như Lạc đang nhìn mình. Tự nhiên ông thấy sợ. Ông thắp thêm nến, nhưng càng sang thì đôi mắt lại càng rõ” (tr. 43).

Còn Điều, chỉ đến khi Lạc chết ông mới hối thì đã quá muộn. “Có trời chứng giám, thực tình trước đây ông không thù ghét gì lạc cả, ông cũng không định hại anh. Không ngờ, vì không suy xét mọi bề mà ông đã vô tình đẩy Lạc đến nông nỗi này” (tr. 47).  

Đấy là chuyện có thật vào những năm tháng chiến tranh chống Mỹ và sau giải phóng miền Nam. Một người không phải là nhà văn chuyên nghiệp, lại bận trăm công nghìn việc như thầy Đình Quang mà vẫn ghi lại thành một câu chuyện xúc động và ám ảnh người đọc đến như vậy, thật đáng quý biết bao.

Nhưng những chuyện có thật mà chính Ông đã từng trải nghiệm đến mức “hai lần suýt bị vỡ nồi cơm thật” (tr. 328). Ấy là vào năm 1963, Thầy đạo diễn vở kịch “Tàn đêm” của Tất Đạt và vở thứ hai trước giải phóng là “Bạch đàn liễu” của Xuân Trình. Từ hai sự “vấp ngã” ấy, Ông đã có lúc định chọn cách mà Tào Mạt đã nói lúc sinh thời: “Đã làm Hề thì đừng làm Quan, đã làm Quan thì đừng làm Hề” (tr. 327). Nhưng với một tài năng lớn như Giáo sư- Tiến sĩ, NSND- Đạo diễn sân khấu Đình Quang thì cách mà Tào Mạt tiên sinh khuyên lại trở thành ngoại lệ. Bởi Ông đã có một thời gian khá dài vừa làm Quan, vừa làm Hề mà vẫn “mười phân vẹn mười”.

Theo tôi, điều quan trọng nhất vẫn tài năng thực thụ và nhân cách văn hóa hơn người, chứ không phải là làm gì. Điều này các thế hệ học trò còn phải học ở thầy Đình Quang rất nhiều./.

Đỗ Ngọc Yên

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác