Một hồn thơ trẻ mãi

(Toquoc)- Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn để lại trong tôi nhiều ấn tượng tốt đẹp từ những ngày đầu tiên tôi đến với thơ. Đó là niềm say mê văn chương suốt đời, một hồn thơ trẻ mãi! Thơ Nguyễn Thanh Toàn giản dị mà hàm xúc, những bài thơ viết cho thiếu nhi của anh giàu hình ảnh, tính giáo dục nhẹ nhàng mà thấm sâu.

Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn là một trong những uỷ viên ban chấp hành đầu tiên của Chi hội Văn học Nghệ thuật Hải Phòng. Anh thường xuyên gặp nhà văn Nguyên Hồng, nhạc sĩ Trần Hoàn. Anh cũng là người đầu tiên của Hải Phòng và của Việt Nam được giải nhì 5 bài thơ viết cho thiếu nhi (tôi muốn nói thêm về giải thơ của tạp chí Văn nghệ, với những tên tuổi sáng giá: Giải nhất Lửa sáng rừng của Thái Giang; Giải nhì: Nhớ mưa quê hương của Ca Lê Hiến tức Lê Anh Xuân, Quê hương của Giang Nam. Giải ba Xây nhà máy của Nguyễn Bính) bài Hoa sim của Nguyễn Thanh Toàn một trong 5 bài giải nhì của anh; được tuyển vào sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 (tập 2) cũng trong quyển này anh còn có bài: Hàng cây trồng theo lời Bác.

Trưa ngày 29 tháng 6 năm 1967, Nguyễn Thanh Toàn bị thương tại trụ sở Chi hội Văn học Nghệ thuật Hải Phòng, số 72 phố Điện Biên Phủ, Hải Phòng. Anh từ Thuỷ Nguyên về nội thành để chuẩn bị bài cho tập sáng tác Phụ nữ Hải Phòng ba đảm đang. Khi nghe tiếng còi báo động, trong trụ sở chỉ có hai hầm cá nhân đã có người; anh chạy ra cửa thì hàng loạt bom bi nổ, nhiều viên bi đã găm vào cơ thể anh, may anh đang đội mũ rơm không thì nguy đến tính mạng! bởi hàng loạt viên bi làm thủng lỗ chỗ cửa sắt trụ sở Chi hội Văn học Nghệ thuật Hải Phòng!

Nhà thơ bị thương như một chiến sĩ ngoài mặt trận. Trước đó anh in bài thơ Hải Phòng trên tuần báo Văn Nghệ. Bài thơ được tuyển vào sách giáo khoa Văn học lớp 8 Bổ túc văn hoá của Hải Phòng.

Thơ Nguyễn Thanh Toàn giản dị mà hàm xúc, những bài thơ viết cho thiếu nhi của anh giàu hình ảnh, tính giáo dục nhẹ nhàng mà thấm sâu.

Anh là người yêu quí bạn văn chương sống có tình. Ngày gia đình anh ở 126 Cát Dài nơi đây là điểm hẹn của anh em văn nghệ Hải Phòng. Các nhà thơ Vân Long, Thanh Tùng, Thi Hoàng, Đào Cảng, Trần Lưu, Trần Quốc Minh... thường xuyên tới nhà anh, bởi chị Quyên vợ anh là bà chủ mến khách.

Năm nay anh đã ngoài bẩy mươi, nhưng vẫn bền bỉ đọc và viết. Học trò của anh nhiều người thành đạt, trong số đó có đại tá Nguyễn Văn Tâm chánh án toà án quân sự quân khu 3. Hoạ sĩ, Nhà thơ Nguyễn Tất Hanh hiện công tác tại tạp chí Cửa Biển Hải Phòng.

Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn để lại trong tôi nhiều ấn tượng tốt đẹp từ những ngày đầu tiên tôi đến với thơ. Đó là niềm say mê văn chương suốt đời, một hồn thơ trẻ mãi!

Theo tôi, anh có đủ điều kiện gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng đến nay anh vẫn chưa làm đơn xin gia nhập Hội! Anh bảo bởi anh tuổi cao, lại bệnh tật, anh ngại!

Từ năm 1987 đến nay căn bệnh khó chữa làm khổ anh, thuốc thang mọi nơi vẫn không thuyên giảm! Hầu như anh không đi họp hoặc gặp bạn viết. Người viết bài muốn các bạn đọc gần xa hãy chia sẻ với nhà thơ tài hoa và nhiều nghị lực này!

Trần Quốc Minh

Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn

Sinh ngày 25 tháng 8 năm 1937 tại làng Như Lân, huyện Văn Giang, Bắc Ninh (sau đó thuộc Gia Lâm, Hà Nội, nay thuộc tỉnh Hưng Yên).

Năm 1946 gia đình tản cư lên Thái Nguyên. Năm 1950 hồi cư về Hà Nội, tiếp tục đi học. Năm 1957 đi dạy học tại Uông Bí, tỉnh Hồng Quảng (nay là Quảng Ninh), vẫn sống kiểu ở trọ, từ làng nọ sang làng kia. Tình cảnh xa nhà triền miên và ngày ngày giảng cho học trò những bài thơ năm chữ, bảy chữ, lục bát... đã kích thích việc tìm hiểu thơ, truyện và bắt đầu con đường sáng tác. Sau chuyển về dạy ở Hải Phòng cho đến khi nghỉ hưu.

Từ năm 1961-1977 anh dạy trường cấp 2 Nguyễn Trãi xã Thuỷ Đường, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng, môn Văn, Sử, Địa. Từ năm 1978-1987 anh dạy lớp 7 ở trường cấp 2 Phan Bội Châu (Quận Hồng Bàng Hải Phòng; nay là trường Nguyễn Huệ). Giữa năm 1987 anh bị bệnh nên nghỉ đứng lớp để chạy chữa, nhưng không đỡ; đến năm 1994 anh nhận sổ hưu. Từ đó đến nay anh vẫn vượt lên bệnh tật để sống, đọc và viết một cách bền bỉ.

Anh có bài in liên tục trên các báo, tạp chí từ địa phương đến trung ương. Làm thơ từ năm 1959, ngoài ra còn viết chân dung văn học, viết phê bình.

Anh là Uỷ viên ban chấp hành Chi hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng khoá I (1964-1972)

Đã xuất bản:

- Hoa nắng, tập thơ in chung với Phạm Ngà (Hội VHNT Hải Phòng, 1981)

- Trăng của bé (Tập thơ in chung. NXB Kim Đồng, 1983)

- Trồng nụ trồng hoa (Tập thơ in chung với Đào Cảng, Trần Quốc Minh, Thọ Vân - Nhà Xuât bản Hải Phòng, 1985)

- Nơi nhớ nơi thương (Nhà xuất bản Hải Phòng, 2003)

- Theo mùa hè lên núi (Nhà xuất bản Hải Phòng, 2003)

Giải thưởng:

- Chùm thơ thiếu nhi 5 bài: Mẹ, Hoa sim, Trại hè, Núi, Áo mới. Giải nhì cuộc thi thơ của tạp chí Văn Nghệ (Tiền thân của tuần báo Văn Nghệ hiện nay)

- Những con sông đi từ tuổi mười lăm, thơ, giải B (không có giải A) cuộc thi của báo Người giáo viên nhân dân, 1970

- Nói đùa với vợ, Giải thưởng văn nghệ Nguyễn Bỉnh Khiêm của Hải Phòng (Năm 1995 - 1997)

 

Chùm thơ được giải tạp chí Văn nghệ của

Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn

 

Mẹ

 

Trưa em đi học về,

Mẹ đón em đầu ngõ

Những tối em họp khuya,

Mẹ trông chừng mở cửa. 

 

Mùa hè mẹ mua mũ

Rét mẹ may áo bông

Những đêm đông lạnh giá

Mẹ ôm em trong lòng.

 

Những khi em nhức đầu,

Mẹ đứng trông từng phút.

Em khẽ quặn mình đau,

Mẹ đã ngồi xoa bóp. 

 

Mẹ lo từng quyển vở,

Mẹ lo từng bát cơm.

Con còn chưa có đủ,

Mẹ vẫn chưa yên lòng.

Mỗi lần em thấy buồn,

Khi đi xa em nhớ.

Em lại khẽ gọi: mẹ

Là lại thấy vui lên,

Như có mẹ ở bên!

1960

Hoa sim 

 

Em yêu mùa hè

Có hoa sim tím

Mọc trên đồi quê

Rung rinh bướm lượn 

Giữa trưa nắng lửa,

Trú nắng gốc chè,

Hái sim ăn thử,

Trời, sao ngọt ghê! 

Gió mát lưng đồi,

Ve ngâm ra rả

Trên cao lưng trời,

Diều ai vừa thả. 

Em yêu mùa hè

Có trái sim ngọt,

Em yêu đồi quê,

Có cơn gió mát.

 

Trại hè

 

Trên lưng đồi quê

Bên bờ kênh mát,

Chúng em ca hát,

Vui cắm trại hè.

 

Chỗ này học hát,

Chỗ kia gảy đàn,

Có chỗ đang tập,

Nhảy điệu kết đoàn... 

 

Tiếng còi tập hợp,

Đến bữa ăn rồi,

Cơm thơm ngào ngạt,

Dọn ra lưng đồi.

 

Thông reo vi vu,

Líu lo chim hót,

Như gọi nhau về,

Vui đêm họp mặt. 

 

Trăng sao vằng vặc,

Trời tím mênh mông,

Củi cháy tí tách,

Bốc cao lửa hồng.

 

Tan buổi trại hè

Chia tay ra về,

Ai ai cũng nhớ,

Cắm trại đồi quê.

 

Núi

 

Ngay trước cửa làng em

Núi dăng dăng đứng ngó:

Dòng sông xanh cuộn quanh,

Luỹ tre làng xóm ngõ...

 

Những đêm khuya trăng tỏ,

Núi cong cong mịn màng,

Nhịp nhàng như sóng bể,

Gió lùa qua êm êm. 

 

Nương chè xanh thoai thoải,

Rẫy sắn mới đâm chồi,

Thông rì rào như nói:

Đẹp vô cùng núi ơi!

  

Áo mới

 

Năm nay lại được mùa,

Mẹ lại may áo mới.

Có bao nhiêu màu hoa,

Nở bừng trên mặt vải. 

 

Em thích màu hoa vàng,

Em yêu màu hoa đỏ,

Em muốn cảnh xóm làng,

Cũng in trên áo đó. 

 

Cảnh nhà máy đang xây

Ống khói cao hơn mây

Vẽ ngay đằng trước ngực

Trên áo của em này. 

 

Rồi sang nam được mùa,

Mẹ lại may áo hoa,

Có cả hình đồng lúa,

Có cả cảnh quê nhà.

1960

 

Những con sông đi từ tuổi mười lăm

Giải B (không có giải A) cuộc thi thơ của báo

Người Giáo viên Nhân dân năm1970

 

Em gặp lại những con sông quen từ tuổi mười lăm

Những con sông xưa cô đưa thăm

Những con sông xanh, những con sông đỏ...

Đi nuôi bao đồng bằng giàu có.

 

Từ trang sách ra đi, em mở lại từng trang sách

Đâu cũng thân yêu như bàn tay

Như gặp lại những người bạn nhỏ

Đã lớn cao qua nhiều năm vẵn nhớ.

 

Đất nước mênh mông phù sa trải lụa

Đường giặc phá lại liền dưới bước chân qua

Như sông chảy em là giọt nhỏ

Cuồn cuộn xuôi về phía chân trời lửa.

 

Ở quê nhà cô đưa những tuổi mười lăm

Khơi những dòng sông mơ ước

Đâu cũng lòng cô đẹp như trang sách

Cô lại trao chìa khoá mở chân trời.

 

Người ta bảo không có chiến công nào dâng cho Tổ quốc

Lớn hơn chiến công của người ngoài tiền phương giết giặc.

Cô đã dạy em biết làm người lính của nhân dân

Cô đã mở nguồn cho những chiến công.

7-1969

 

Nói đùa với vợ

Giải thưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm 1995-1997

 

Không có em đường phố sẽ già đi

Nắng còn đuổi tóc dài ai nữa

Cây chắc thôi xanh và những ngôi nhà

Gió chẳng đến mở rèm trên cửa.

 

Không có em trời sẽ thôi cao

Hết cả bão, hết những chiều mưa lạ

Ai nhón gót đi nón che nghiêng ngả

Ai rắc vàng lên mặt trăng sao. 

 

Rồi miếng đắng cay, rồi miếng ngọt ngào

Hoá vô nghĩa như cũng thành vô nghĩa

Tiếng hát cười, tiếng khóc, tiếng rên đau

Sự sống nghèo nàn, cái chết về đâu!

 

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác