Một đời theo mãi câu thơ

Ngô Minh

Con người từ tuổi đôi mươi đã lặng lẽ bám theo đoàn quân xung kích với những bài ca dao, câu thơ mộc mạc, chân phương động viên mọi người vượt qua khó khăn, bom đạn để chiến đấu, để dựng xây, nay mắt đã mờ, đầu bạc phơ như sóng, bỗng thấm thía nhận ra: “Một đời định nghĩa chưa ra/ Thơ là gì nhỉ mà ta kiếm tìm”. Hỏi rồi lại viết. Viết rồi lại trăn trở: “Một đời theo mãi câu thơ/ Tôi đành như kẻ bơ vơ lữ trình…” - con người bề bỉ kiếm tìm đó là lão nhà thơ Nguyễn Văn Dinh.

Một đời theo mãi câu thơ - ảnh 1Nguyễn Văn Dinh sinh ra bên bờ sông Gianh, xã Quảng Phương, huyện Quảng Trạch, miền “gió Lào cát trắng” Quảng Bình. Năm nay ông bước sang tuổi 75, nghĩa là ông đã có hơn 50 năm làm thơ, viết báo, 50 năm làm chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ, báo chí của Cách mạng. Ông làm tuyên huấn trong bộ đội, rồi làm báo đến chức Phó Tổng Biên tập, làm lãnh đạo Hội Nhà báo tỉnh cho đến lúc nghỉ hưu. Tuổi đôi mươi ông vác mã tấu theo bộ đội lên chiến khu rồi trở thành anh Vệ Quốc Đoàn mặc áo trấn thủ, chân đi dép lốp, cũng là cái tuổi ông đến với thơ. Những năm đánh Pháp trên chiến trường Trị Thiên khói lửa, Nguyễn Văn Dinh từng trùm chăn bấm đèn pin hạt đỗ, thức trắng đêm viết thơ kể chuyện quân ta đánh đồn An Lạc (Lệ Thủy) cho kịp sáng mai đọc trước hàng quân mừng chiến thắng. Từ những bài ca dao dân giã, ông viết hàng ngàn bài thơ rồi trường ca. Từ hơn 40 năm nay, thơ Nguyễn Văn Dinh xuất hiện nhiều trên các sách báo Trung ương cũng như địa phương. Thơ ông, tên ông đã trở nên quen biết trên dải đất miền Trung và độc giả cả nước. Nhắc đến Nguyễn Văn Dinh ai cũng nhớ những bài thơ bốn câu, chùm thơ bốn câu viết về những sự kiện lịch sử, những vùng đất thân quen của đất nước. Đến năm nay ông đã xuất bản 12 tập thơ và còn 3 tập bản thảo nữa đang chờ in. Có người làm thơ chỉ lóe lên vài bài rồi tắt ngấm như lửa diêm trên đồng đêm. Có người làm thơ khi ra gánh vác việc đời thì không viết được nữa. Thế mà ông vẫn hai vai “việc đạo, việc đời” bền bỉ ngần ấy năm không mỏi!

Thơ Nguyễn Văn Dinh như tính nết con người ông: Mộc mạc, chân chất và rất khiêm nhường. Nguyễn Văn Dinh rất kỹ tính, đã hứa việc gì là làm cho bằng được. Ông đi họp hành chỉ ngồi một góc lắng nghe mọi người nói. In được tập thơ mới, ông lập một danh sách dài tên những người cần tặng. Đã tặng ai rồi thì gạch đi, không phải gặp ai cũng hứng lên tặng như những nhà thơ khác. Hồi Bình Trị Thiên có chung tỉnh, sau chuyến tháp tùng đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh đi thăm tỉnh Savanakhet (Lào) về, ông ghé biếu tôi chai rượu Lào. Đến nhà gặp hai cháu con tôi, ông bỗng vỗ trán nhớ ra: “Ở Lào có thứ gạo nếp nương ngon lắm, bác sẽ mua về tặng Hải Bình và Hải Tân vài ký để mẹ nấu xôi cho mà ăn!”. Tưởng ông nói thế để động viên cháu, không ngờ hai tuần sau tôi ghé thăm căn phòng ông ở một góc Nhà khách 2 - Lê Lợi, Huế, thấy trên tường chỗ bàn làm việc có găm tấm giấy nhỏ, ghi: “2 ký gạo nếp Lào cho con Ngô Minh”. Tôi nhìn mảnh giấy mà ứa nước mắt. Không ngờ một việc nhỏ như thế mà ông cũng để tâm đến vậy. Ba tháng sau, trong chuyến đi Lào khác, ông đã mua gạo nếp về biếu cháu thật! Nguyễn Văn Dinh khiếm tốn đến mức không bao giờ “ăn thua” với mọi người trong những cuộc cãi cọ. Có lần, trong một cuộc họp đông đảo Hội viên văn nghệ tỉnh, cố nhà thơ Hải Bằng bỗng gọi Nguyễn Văn Dinh tới cùng nhiều anh em khác, bảo: “Tớ vừa làm được bài thơ trường thiên, chỉ có bốn câu lục bát mà đọc cả ngày không hết: Hoan hô nhà thơ Văn Dinh/ Bỗng nhiên bắt gặp cái đinh giữa đường/ Hoan hô nhạc sĩ Minh Phương/ Bỗng nhiên bắt gặp giữa đường cái đinh…” Cứ thế mà đọc liên vận lại từ Hoan hô nhà thơ Văn Dinh… Ai cũng biết ý nhà thơ Hải Bằng là chê Nguyễn Văn Dinh thơ khô khan, thiếu tình yêu mùi mẫm. Nhưng Nguyễn Văn Dinh nghe xong chỉ cười tủm tỉm rồi bảo: “Nếu mà mình đọc về Hải Bằng, thì phải đọc Hoan hô nhà thơ Văn Tôn (Văn Tôn là tên Hải Bằng) cái vần Tôn ấy gay go cho cậu lắm đấy nhé”. Thế là hai người đều cười hòa! Hóa ra ông cũng nhạy và tếu lắm!

Thơ ông gặt hái được trong các chuyến đi ngắn, dài vượt bom đạn về cơ sở và mặt trận. Ông lên Trường Sơn, về Phà Gianh, Bảo Ninh, Ngư Thủy, đến các lâm trường; các tuyến đường sông trong những năm chiến đấu ác liệt. Ông gặp gỡ thanh niên xung phong, thủy thủ, bộ đội, cô giáo, học sinh, các cô bác xã viên những người công nhân dũng cảm. Có mặt trong trong thơ anh còn có những anh hùng tên tuổi như Mẹ Suốt, chị Khíu, anh Võ Xuân Khuê, chị Trần Thị Lý… Anh bắt nhận từng nét nhỏ như những tia sách của hình tượng, từ đó mà soi rọi làm nổi bật lên tính cách người chiến sĩ ở khía cạnh cảm động của nó. Cô thanh niên xung phong gùi gạo ra trận “đường xa đẫm mồ hôi”, “lưng miết mòn bao tải”, nhưng khi: Lên đỉnh “dốc hết ý”/ Mái tóc gội mây trời/ Miệng mũi tranh nhau thở/ Lát sau em lại cười. Một nụ cười khác - nụ cười của người thủy thủ lái ca nô đưa phà qua sông Gianh. Thủy lôi giặc nổ, ca nô tung lên anh bị thương ngất đi: … Lúc đồng đội vớt anh lên/ qua cơn mê tỉnh lại/ Em gái đến thăm/ Chưa kịp khóc/ Anh đã cười!

Những nụ cười ấy chính là điểm sáng vừa hiện thực lãng mạn làm ta cảm động, để rồi ta bỗng thấy lòng mình ấm áp hơn, tâm hồn cao lớn hơn lên. Cũng về đề tài thanh niên xung phong. “Lời thơ trên võng” là một bài thơ tốt, bố cục chặt gọn gàng, nhiều chi tiết sống động. Đó là tâm trạng của anh thương binh, đang nằm trên cáng của hai cô gái trong đêm mưa đèo gian khổ. Cô gái thương người chiến sĩ cố giữ võng cho thật êm, còn người chiến sĩ lại thương đồng đội vất vả vì mình cứ thắc thỏm trăn trở: Bạt che kín mít như bưng/ Vẫn nghe vai trở theo từng bước lên/ Con đường dốc lắm hở em/ Mà nghe những tiếng thở chuyền nối nhau./ Trượt chân mà vẫn không nghiêng/ Vẫn là câu hát bay trên võng nằm.

Phải là người dấn thân trong cuộc chiến đấu mới có những câu thơ thực đến vậy!

Nguyễn Văn Dinh mộc mạc, chân tình. Ông không trực tiếp bộc lộ cảm xúc để cho thực tế tự nói lên tiếng nói thuyết phục của nó. Một “Con đường không tên” lặng lẽ xuyên qua bão cát bom lửa, xuyên qua sự hy sinh thầm lặng mà to lớn của mỗi người, mỗi gia đình đi tới một chiến công làm ai cũng nức lòng “Những con thuyền Nhật Lệ” chở rừng ra biển “- đưa cả màu xanh vào trận đánh”. Một cành hoa chắt chiu như tình đất. Một nắm đất Quảng Bình khỏi lửa gửi tới nước bạn Cu Ba.v.v… Ý nghĩa khái quát ẩn giấu đằng sau sự ghồ ghề, sinh động của bề mặt hiện thực.

Thành công nhất trong thơ Nguyễn Văn Dinh có lẽ là bài thơ “Em bé Bảo Ninh”. Năm 1964, máy bay Mỹ đánh phá ác liệt xã Đồng Hới và hai bờ sông Nhật Lệ. Có một em bé Bảo Ninh mới 15 tuổi tên là Trương Hương đã vác những hòm đạn trên vai, trong khói lửa cùng mọi người lao về phía trận địa bắn máy bay tiếp tế cho bộ đội: Em bé Bảo Ninh/ Bên bờ Nhật Lệ/ Dưới trời lửa khói/ Em như cái tên/ Lao trên cồn cát/ Rẽ gió xông lên/ Cởi khăn quàng đỏ/ Bọc đạn chuyền đi/ Trận địa bom nổ/ Gót son sá gì.. Thể thơ bến chữ tạo ra không khí hừng hực của cuộc chiến đấu. Bài thơ có nhiều chất hội họa, giàu nhạc điệu, làm ta liên tưởng đến chú bé Ga-vờ-rốt trong Những người khốn khổ của Vích -to - Huy -gô. Bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Hữu Pháp phổ nhạc. Tuổi học trò của tôi ở Quảng Bình đã từng hát vang cùng bạn bè ở làng bài hát về em bé Bảo Ninh cũng là một biểu tượng nổi bật như Mẹ suốt, chị Trần Thị Lý… “Em bé Bảo Ninh” Trương hương năm nay đã tuổi 60, hiện là Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ xã, đã có cháu ngoại, vẫn sang Đồng Hới thăm nhà thơ Nguyễn Văn Dinh luôn. Kiếm được con mực, con cua ngon cũng điện “bác” Dinh sang chia vui. Đó là phần thưởng lớn nhất dành cho nhà thơ bằng sáng tạo của mình đã đưa một con người thực thành một hình tượng văn học đẹp!

Theo hướng này, Nguyễn Văn Dinh còn có những thành công đáng kể. Ai đã về làng biển giữa mùa cá cơm mới yêu hết cảnh thơm lừng này: Hô huầy ta nậu/ Cho đều bốn dây/ Hồ Hầy ta nậu/ Cá vun bãi đầy/ Khô giòn trong nắng/ Cá trắng màu cơm… Những câu thơ trên đẹp tự nhiên, gợi hình linh động. Có thể kể thêm một số câu thơ giàu chất suy nghĩ sáng tạo nữa của ông: “Tấm thân mẹ, vách chiến hào của con” (Gửi con), “Tiếng rùi miết đá giục gà gáy ran”, “Gió đưa gỗ mới bay hương - Tiếng ong tìm mật còn vương nắng đèo” (Buổi sáng ở rừng)… Những câu thơ như vậy đang còn hiếm trong thơ Nguyễn Văn Dinh, nhưng nó cũng chứng mình cho khả năng quan sát, tìm tòi của ông trong thơ.

Từ thời kỳ Quảng Bình tái lập lại tỉnh, Nguyễn Văn Dinh dường như viết khỏe hơn. Ông xông xáo đi khắp tỉnh. Mặc dù bận rộn công việc của một nhà báo, ông vẫn làm thơ đều đều. Thời kỳ này ông đã cho xuất bản hàng chục tập thơ, trong đó có 4 tập thơ chuyên đề viết về Bác Hồ. Đời ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học như giải về ca dao kháng chiến của Quân Khu Bốn 1953, giải thưởng VHNT Lưu Trọng Lư (Quảng Bình) 1995, giải thi thơ báo Người Cao tuổi v.v… Bài thơ Lời dã tràng của ông đã được nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm chọn vào tuyển “Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam”: Ai bảo dã tràng xe cát uổng công/ Không tôi, ai bạn cùng sóng bể?/ Sức nhỏ nhoi kiên trì lặng lẽ/ Trận đấu dã tràng với sóng vẫn hòa không. Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ nói lên tâm huyết của một đời cầm bút!

Mảng đề tài mà nhà thơ Nguyễn Văn Dinh tâm đắc và viết rất nhiều, rất bền bỉ là hình tượng Bác Hồ. Ông sáng tác tới 150 bài thơ để bày tỏ tấm lòng thành kính của mình đối với Bác Hồ kính yêu. Nếu tính theo số lượng bài, ông là nhà thơ viết về Bác Hồ nhiều nhất nước ta hiện nay. Hẳn nhiên không phải bài thơ nào cũng hay, nhưng làm được chừng ấy bài cũng là một kỳ tích. Năm 2002, con gái định cư ở Đức bao bố sang chơi 3 tháng. Dịp đó ông đã đi thăm quan tới 5 nước, và ông không quên tới Paris, đến tận ngõ số 9- Công Poanh, nơi Bác Hồ làm báo Lê Paris để thăm di tích mà mình từng ngưỡng mộ. Và ông đã có thơ: Ước một lần đến Công Poanh nơi bác ở / Thăm ngôi nhà ân nghĩa năm xưa/ Từ đây ra đời báo “Người cùng khổ”/ Nay đứng trước ngôi nhà lòng tưởng còn mơ. Đó là tấm lòng chung thủy sắt sơn của một nhà thơ đối với Bác Hồ - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc: Nâng cánh cổng tre con khép lại/ Nhìn mái nhà lưu luyến xiết bao/ Mỗi lần được về thăm quê Bác/ Bước ra đi, bước lại quay vào. Hình tượng Bác Hồ trong thơ Nguyễn Văn Dinh được khai thác từ những chi tiết dù nhỏ nhặt nhất, như Cánh đồng làng Bác kéo gàu giai… gậy thì phơi áo mũ phơi khăn… Nhờ đó mà ông tránh được sự ồn ào, chung chung hoặc trùng lắp ý người này, người khác. Anh tìm những chi tiết thực hàng ngày như ngọn lửa lò rèn, hàng cây, ao cá, chiếc quạt lá cọ… để nói lên tình cảm suy nghĩ của riêng mình khi soi vào công ơn, đạo đức của Bác. Tập thơ mới nhất Nhớ Bác Hồ nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Người có lời giới thiệu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Đọc tập thơ Nhớ Bác Hồ của nhà thơ Nguyễn Văn Dinh, càng thấy: Lòng Bác thương dân vô hạn/ Lòng dân nhớ Bác đời đời. Tôi hoan nghênh tập thơ được xuất bản vào dịp kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Bác…”. Tuy nhiên, hình như Nguyễn Văn Dinh có quá ít thì giờ để ấp ủ, nuôi chín cảm xúc nên một số bài thơ còn dễ dãi, chưa tinh luyện.

Tôi đã cùng với ban Văn nghệ Trung tâm Truyền hình Việt Nam ở Huế ra Đồng Hới mấy ngày để làm phim chân dung nhà thơ Nguyễn Văn Dinh. Thăm nhà ông mới nhận ra tính cách của ông rất rõ. Vợ chồng ông được con cái giúp đỡ làm được ngôi nhà hai tầng. Tầng trệt vợ chồng già ở với hai đứa cháu ngoại. Còn tầng trên là một “bảo tàng Nguyễn Văn Dinh”. Hai dãy bàn kê chồng chống cao ngất báo, tạp chí có in thơ của ông. Tính ra cả mấy tấn báo chí. Trên tường là những bức ảnh ông chụp với bạn bè văn nghệ cả nước, chụp với Đại tướng Võ Nguyên Giáp lồng trong khung thếp vàng trang trọng. Trên bàn làm việc của ông có tập lưu các bài viết của mọi người về ông, được ép lastíc cẩn thận. Một cái đinh khác găm các thứ giấy mới hội thảo, họp hành từ nhiều năm trước đến nay. Tôi hỏi: “Anh lưu mấy thứ này làm gì”. Ông cười bảo: “Đó là kỷ niệm, mỗi tờ giấy gắn liền với bao người, nhớ lắm…!”

Năm nay nhà thơ Nguyễn Văn Dinh đã 75 tuổi, không biết thể trạng thế nào mà tôi nhìn ông yếu hơn hẳn những người cùng tuổi. Thế mà ông vẫn cặm cụ với thơ. Nâng nui từng ý, từng bài. Tâm sự với tôi, ông bảo: “Mẹ tôi vốn người theo đạo Phật. Từ nhỏ tôi đã được mẹ dạy cho điều THIỆN. Khi trưởng thành đi vào con đường báo chí, văn học, tôi luôn hướng tác phẩm theo CHÂN THIỆN MỸ… Tôi luôn hướng lòng về cái Thiện, cái từ tâm mà mẹ tôi dạy từ thưở ấu thơ…”. Vâng, dù nhiều bài thơ của ông còn chưa ưng ý, nhưng lão nhà thơ của chúng ta dường như đã đến được với cái CHÂN, THIỆN, ước ao của đời mình: Đọc lại trăm bài thơ tứ tuyệt/ Một bài có từ đã là vui/ Một câu neo được trong lòng biển/ Xin gửi khơi xa chút mặn mòi. Nguyễn Văn Dinh vẫn luôn trăn trở về thơ, cũng như người nông dân lo mùa vụ: Nhà nông cày sâu trên thửa ruộng/ Ta vẫn cày trên trang giấy mỗi đêm thâu/ Nhà nông sợ nắng nung bão lũ/ Ta sợ lòng nông cạn chẳng đằm sâu.

Đó là nỗi lo của người cầm bút có trách nhiệm trước cuộc đời!.

Huế, 2007

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5 tháng 3 năm 1932 tại xã Quảng Thanh, Quảng Trạch, Quảng Bình. Hiện thường trú tại xã Đồng Hới, Quảng Bình. Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Văn Dinh chuyển sang làm báo. Từng đảm nhiệm các cương vị: Phó tổng biên tập báo Quảng Bình, Phó chủ tịch Hội nhà báo Quảng Bình, ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Quảng Bình.

Tác phẩm chính đã xuất bản: Cánh buồm (thơ, 1976); Gặp nụ cười (Thơ, 1980); Giàn thiên lý (thơ, 1992); Hai con sóng (thơ, 1995); Lời dã tràng (thơ, 1996); Nhớ Bác Hồ gồm 114 bài thơ tứ tuyệt (in 2005).

Nhà thơ Nguyễn Văn Dinh được nhận giải thưởng của Bộ Quốc phòng, Hội Nhà văn Việt Nam, Bộ Lâm nghiệp về thơ và nhiều giải thưởng văn học khác. 

(Văn nghệ)

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác