Lương Hữu trên cánh đồng văn chương cấy gieo và hái gặt


(Toquoc)- Mùa Xuân Nhâm Tý, năm 1972, sau vài ngày tề tựu, “ăn cái Tết chiến tranh” với bố mẹ ở Vĩnh Bảo, quê nhà. Sớm mùng Mười Tết ấy, từ Báo Quân khu Tả Ngạn, tôi về Hội Văn học Nghệ thuật Thái Bình nhận nhiệm vụ làm cán bộ “Biên tập - sáng tác” văn học khi “Ban vận động thành lập Hội VHNT - TB” vừa tổ chức thành công Đại hội lần thứ nhất.

Ngày ấy, văn chương ở Thái Bình đang là một khoảng dài mờ, lặng. Có thể nói, lúc này, lịch sử văn học cận và đương đại ở Thái Bình, chỉ duy nhất có Bút Ngữ với hai tập sách, đủ sức “vượt phà Tân Đệ,” được Nhà xuất bản Quốc gia chọn in trong các năm 1959, 1960. Một. Tập văn xuôi: “Bên đồng nước úng” in chung với Ngô Ngọc Bội. Một, tập thơ: “Quả đầu mùa,” cũng của Bút Ngữ in chung với tác giả Ngọc Minh.

Lực lượng thơ chủ chốt đang “ngự” trong “Phủ Hội” có một Nguyễn Khoa Đăng. Còn, Bùi Công Bính, Bút Ngữ “đi hai chân”, cả văn và thơ. Nhưng, cái được nhắc “như điểm sáng” của hai tác giả này là văn xuôi với sự hiện diện và thành công đang có.

Lần vào đội ngũ “Hội viên thơ của Hội,” ở Thái Bình, Lương Hữu và Xuân Đam, hai gương mặt đầu tiên làm tôi chợt giật mình dừng lại. Bởi, “cái Có” trong cái thần, cái lấp lánh, cái vang. Cái nội lực dễ tạo nên vệt loang, nơi trang thơ chứa chan “hồn người viết” của họ.

Vâng. Người “làm thơ” có thể nhiều. Người in được nhiều thơ, nhiều tập, cũng không ít. Nhưng, “Anh?” có thực sự là thi sĩ” hay không? Với thơ. Quả không dễ đem lòng tin được!
Lương Hữu trên cánh đồng văn chương cấy gieo và hái gặt - ảnh 1

Bởi, là thi sĩ đích thực, họ được “Đấng Cao Xanh,” “Đấng Vô Thượng” ban cho một con tim “ôm trùm vũ trụ.” Ba dòng Thiên-Địa-Nhân luôn làm nên sự nhập hòa, tan chảy. Làm nên phút “cưới nhau” giữa hiện thực đời sống của thế giới thứ nhất với sức cháy, sức rung của ngọn lửa tâm hồn.

Thi sĩ Lương Hữu, người tôi tin. Tôi mê “người thơ” này ở phút mới mẻ, tươi xanh trong cảm rung, ngắm nghía ở bài thơ anh viết về bãi biển “Đồng Châu.” Với câu thơ tả thực. Với “trực giác” mà ở đó bộc lộ nét quan sát thật điển hình, thú vị trong cảnh “Le le ăn chụm…”

Tôi mê cái Đẹp, cái chất “thi vị hóa” trước một vùng biển quê đang đi qua chiến tranh, đi qua đạn bom, khói lửa được Lương Hữu run rẩy, nâng cầm chút ngọt ngào tìm thấy ở mặt đất ? Hay anh đã tìm được ngay giữa chính hồn mình:

Giữa vùng đạn nổ bom rơi

Dịu dàng thay, một khoảng trời Đồng Châu

Câu thơ này tôi nhắc như một kỷ niệm vui của buổi “tương phùng,” chứ không phải câu thơ hay nhất của “đời thơ Lương Hữu.”

Ở Thái Bình, là người làm công tác Biên tập, theo dõi phong trào sáng tác văn học, có tới trên ba mươi năm làm bạn đồng hành, lúc nào tôi cũng gặp trong hiện diện, trong xác lập, trong ngôi thứ: “Lương Hữu luôn là một trong đôi ba “thi sĩ ít ỏi,” đứng đầu đội ngũ những người làm thơ hiện đang sống và viết trên mảnh đất quê nhà.

Còn nhớ, sau những ngày Bắc Nam vừa thống nhất, Lương Hữu xung phong vào công tác ở miền đất phương Nam. Anh trực tiếp giảng dạy tại trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang. Hơn ba năm “biệt xứ,” buổi trở lại Thái Bình, trong cuộc tái ngộ, tôi vui mừng kiếm được bài thơ khá hay của Lương Hữu viết về mảnh đất “Hà Tiên.” Rất nhanh, bài thơ được giới thiệu trên trang Văn nghệ của “Nguyệt san Báo Thái Bình” do tôi “biên tập thuê” cho Báo. Bài thơ như “cuộc tái trình” với đông đảo công chúng bạn đọc Thái Bình: “Nhà giáo, nhà thơ Lương Hữu của chúng ta vẫn viết. Vẫn cất dấu những bài thơ hay như báu vật riêng mình trong quãng xa, thầm lặng.”

Đúng là, Lương Hữu vẫn âm thầm nuôi trong mình ngọn lửa. Vẫn “thai nghén” và “đẻ.” Nhưng, anh không công bố. Cùng Lương Hữu, Trọng Khánh, Hoàng Công Kiên, Trần Chính, Bùi Mạnh Cường, Tống Ngọc Trung, Lã Quý Hưng, Nguyễn Anh Quốc và nhiều cây bút khác ở Thái Bình… Tôi thầm vui, đã góp công khơi nguồn, đốt lên, nơi các anh: “Sức cháy.”

Từ Kiên Giang trở lại Thái Bình, Lương Hữu bỗng viết nhiều, in nhiều. Một “lãnh địa” làm nên “đất dụng võ,” đất chứa nhiều sinh khí cho Lương Hữu “nhập cuộc,” đóng vai trò “nguyên súy.” Ở trường Cao Đẳng Sư phạm Thái Bình, Lương Hữu có bao nhiêu bạn bè với lứa lứa học trò tiếp nối. Đấy là, nguồn cổ vũ, chất xúc tác cho anh. Đấy là, những Hải Đạm, Vũ Duy Yên, Hồ Thùy. Những Hồng Oanh, Hồng Nhung, Ánh Tuyết… Trong số bạn bầu này, có những cây bút thành danh mà Lương Hữu tự hào đã góp vào con thuyền cập bến của họ, mà chính anh, khi là những con sóng xô bờ, khi là ngọn gió nâng bổng cánh buồn sải cánh, khi là nguồn mở của hướng tìm tới cung nọ, bậc kia…

Lương Hữu là nhà thơ hay. Thơ Lương Hữu đa tình. Thơ như chất phù sa, ngọt đằm, xanh về bến bãi. Thơ mang sức lắng, sức xoáy, lặng trầm. Thơ “như cô gái đẹp.” Thơ dễ làm người ta phải cuống quýt, mê lòng.

Từ “Mùa mây ai nhớ, Sông chảy dòng đôi,” rồi: “Cái quay búng sẵn”…Thật không còn nghi ngờ gì nữa, ở các tập thơ này, Lương Hữu bộc lộ khả năng, luôn đem mình “mở ra một thế giới ? ” Hay có một thế giới trong tâm hồn Lương Hữu đang dào dạt cơn say, đang ùa ra trên ngôn từ, thi liệu ?

Thơ Lương Hữu nồng say, có duyên. Mà tình tang. Mà lung linh, quyến rũ.

Thử đọc:

Bọt bèo sông chảy dòng đôi

Bên em nổi loạn, bên tôi mê cuồng

Rồi:

Nỏ thần em bắn vu vơ

Tự tôi đến rụng bên bờ giếng oan

Rồi, chưa hết. Hãy đọc câu thơ này nữa:

Trả và vay… Nợ mãi còn

Kính hai phẩy rưỡi chập chờn bóng em

Ôi. Những tưởng, người phẩm bình chẳng cần viết thêm một câu nào nữa. Thơ Lương Hữu. Một giọt nước. Một ngọn gió. Một tiếng sóng… Để rồi, phía sau ấy là cả vọng vang của một “cơn dư chấn.” Nó thét gầm. Nó lặng lẽ bào mòn lòng ai, nơi phía “vô biên độ”…

Lương Hữu “thật tinh” ở những nét tâm hồn cảm nhận. Nếu không phải “trời phú?” Ai mách bảo, ai dễ dàng “cho được Lương Hữu cái cảm xúc thần diệu dường này? Nó nhuyễn hòa đến không còn ranh giới trong cái mung lung, ảo mờ của hai tầng “ngoại giới” với một phía là năng lực tư duy.

Tôi từng đọc, từng bâng khuâng, xao lòng, quặn thắt với Lương Hữu, với “Đò Dâu,” với tất cả buồn thương, cô đơn trước bao nhiêu tự vấn của anh:

Tôi về hỏi chuyến đò Dâu

Hỏi con sóng, khát khao sau mái chèo

Hỏi người mười sáu tuổi yêu

Một sông, một bến

Mấy chiều nước chia?

Tôi về hỏi chuyện bên kia

Còn ai ngồi bạc dốc đê cỏ gừng

Ồ. Những câu thơ thật hay. Những câu hỏi ngỡ nhẹ thầm, mát trong, êm ru như thế, lại hóa thành những gợn sóng nối nhau mà cuộn sôi, mà dồn táp, tấp xô vào bờ dài, cái nhói lòng, khắc khoải.

Khi:

Đợi người chỉ gặp người dưng

Mùa dâu chín dở nửa chừng heo may

Để rồi:

Hỏi non bốn chục tuổi đầu

Còn ai lỡ chuyến đò Dâu chưa về ?...

Thật nát tan. Buồn đến rơi lòng trước hiệu quả đồng hiện của thơ và “Người thơ Lương Hữu.”

Lương Hữu có nhiều bài thơ hay, câu thơ hay. Hạnh phúc cho những nhà thơ trên đời khi có được những câu thơ in sâu nơi trái tim người đọc.

Không lấy cái mở của “đối tượng phản ánh” mà coi nó là lõi, là nguồn rễ của thơ. Cũng không tự “úm mình” như không ít người viết đang la làng “thơ phải tù mù, hù dọa. Thơ phải lột trần vần điệu để trưng lên những xác chữ vô hồn…” Thơ Lương Hữu đằm, sang và đẹp.

Và Lương Hữu. Ở nhiều phía “tự đi sâu, khám phá chính mình”, nhà thơ đã thành công, khi câu thơ có được “cái thật riêng” ở ngôn thi, hình thi trong bất ngờ, khép mở:

Chả cần buộc chặt đâu, em nhỉ

Anh cột anh trong mắt biển lành

Phố cứ chòng chành.

Em cứ lưới …

Thế nào cũng bắt được hồn anh

Hoặc, đây là câu thơ hay của Lương Hữu khi nhà thơ mở rộng biên độ của “không gian thơ” trong va đập, đối thoại:

Năm chục năm xa, qua chợ Bái

Lều con, trưa vắng, nắng soi hoa

Vừa đi vừa nhẩm từng phiên cũ

Có một phiên sao chẳng muốn già

Đấy là, khi “Qua chợ Bái.” Còn, khi đứng trước “Biển đêm,” đây là câu thơ hay ở cái cảm, cái Lương Hữu biết thoát ra khỏi mình, để trở lại chính mình trong “tự thức”:

Đêm nay biển vắng một người

Chỗ bờ vai khuyết, nguyệt rơi tím bầm

Dọc hành trình, chuyển tiếp, thơ Lương Hữu bám chặt vào gốc rễ truyền thống. Trên cái nền vững này, nhà thơ tung hoành để khơi sâu trong mình những “thăng hoa” trong sáng tạo từ nhiều phía mà quá trình vận động, thơ đem lại và có được ở ý thơ, tứ thơ, ở hình thức và nội dung thơ phát lộ.

Ý thức kiếm tìm này được bộc lộ ở “Cái quay búng sẵn,” khi Lương Hữu chọn và đắp dầy cho mình vệt đậm ở tập “thơ Tứ tuyệt.”

Với “Tứ tuyệt.” Thơ yêu cầu thật cô đọng. Thơ chạy trên cự ly ngắn. Thơ vừa “mở ra” đã yêu cầu “khép lại” trong cái tiếp tục “mở ra” ở “cái khép” nghiệt ngã ấy.

Sở dĩ, Lương Hữu chọn và viết nhiều “tứ tuyệt.” Bởi, nhà thơ với nội lực “thật giàu” một khả năng nhận biết và kiến giải vạn vật quanh mình. Bởi, khi người viết luôn nặng đầy những suy tư, triết luận với sức khái quát bất ngờ, thần diệu qua từng nét cắt, qua các góc cạnh từ nhiều phía soi nhìn.

Và, đây là câu thơ mang chiều sâu suy ngẫm:

Một rừng cây, một đời người

Hát như ta hát cho vui ấy mà

Lạ thay, nhiều khúc dân ca

Đằng sau dấu lặng lại là nốt đơn

Hoặc:

Dẫu tài như Đế Thích

Còn đau nước pháo lồng

Ở nơi cần trí lực

Người hiền thường long đong

Hoặc:

Thoáng vui lại gặp thoáng buồn

Chịu đau một chút mới còn văn chương

Hoặc, đây là nét nhòa, biểu hiện sức kết tinh của cảm rung thi sĩ với tầng chìm sâu, lay động:

Kinh kỳ nay mới hồn thu ấy

Xác lá rơi hơn mọi giãi bày

Thu ở nghìn thu tà áo trắng

Em ngồi chia nắng với heo may

Tôi từng mê Lương Hữu khi anh viết về “Mẹ Đốp,” rồi “Thêm một lần Hai-nơ.” Rồi “Trả và vay.” Rồi “Mỵ Châu.” Rồi, “Quang Lang một thoáng”…

Thơ Lương Hữu, bài nào cũng xinh xẻo, chặt chẽ và “hay.” Có lẽ, từ cái mạnh của một “người có nghề” này, Ở những tập thơ chọn lựa, Lương Hữu “bị” “cái đều,” cái cần có sự bùng nổ nào đó trong đổi khác ở dọc nguồn sông chảy ?

Nhưng, mê Lương Hữu. Dẫn dụ ngần ấy thơ Lương Hữu, tôi và không ít người cầm bút từng nể vì và đắm cùng “chàng thi sĩ” này từ câu thơ “thuở tươi xanh” đến câu thơ buổi chạm vào lại lần nữa “thêm một lần mở mắt.”

Lương Hữu biểu hiện sự đa tài trên cánh đồng văn chương chữ nghĩa. Nhiều bài viết “cảm luận, phẩm bình” văn học của anh có nhiều phát hiện riêng. Tập truyện ngắn “Cặp bánh chưng nhân ngọt” - Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2007 là một đóng góp riêng của Lương Hữu. Không đi sâu vào tâm lý nhân vật. Không bộn bề chi tiết, sự kiện. Không lấy cái ly kỳ, lạ lẫm làm mạch dẫn. Truyện của Lương Hữu giàu chất thơ. Giàu ý tưởng, cảm luận. Truyện khai sáng những những triết luận về nhiều mối liên quan trong đời sống xã hội, con người.

Lương Hữu là một nhà giáo, nhà thơ chững chạc, giàu yêu thương, nhân ái, luôn chân thành, hướng thiện.

Tuổi Đinh Sửu. Sinh ra và lớn lên ở Thành phố Thái Bình. Ông nội anh là một nhà Nho có tiếng một thời. Lương Hữu tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội từ những năm đầu “thập kỷ sáu mươi” của thế kỷ trước. Ở Thái Bình, bạn bè văn chương quý yêu Lương Hữu, một nhà giáo uyên thâm, lịch lãm. Một nhà thơ giàu mơ mộng và hay.

Trong đội ngũ những người cầm bút ở Thái Bình, Lương Hữu là một trong số những gương mặt xứng với bảng “khôi nguyên” trong sự nghiệp cấy gieo và hái gặt những mùa màng thật đẹp trên cánh đồng văn chương, chữ nghĩa.

Kim Chuông

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác