Lời tri ân với nhà thơ Phùng Quán

Sinh nhật Phùng Quán 75 tuổi cũng là năm trang Văn học Quê nhà của báo điện tử Tổ quốc được ra đời. Cuộc đời có tử có sinh, có cũ có mới. Tri ân xin dành đôi dòng của Nguyễn Hoàng Sơn tặng đọc giả yêu mến nhà thơ Phùng Quán.

Lời tri ân với nhà thơ Phùng Quán - ảnh 1
Nhà thơ Phùng Quán
Nhà văn, nhà thơ Phùng Quán sinh năm 1932 tại làng Thủy Dương, ven đô kinh thành Huế, trong một gia đình có truyền thống yêu nước sớm có ý chí đấu tranh cho nền độc lập, cho tự do dân chủ… Ông mất ngày 22/01/1995 tại Hà Nội. Từ tuổi thiếu niên đã tham gia bộ đội chống Pháp, sau năm 1954 chuyển sang làm công tác văn hóa. Tác phẩm: Vượt Côn Đảo (tiểu thuyết, 1955); Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (trường ca, 1955); Trên bờ Hiền Lương (bút ký, 1956); “Thơ Phùng Quán” (tuyển, 1995); “Tuổi thơ dữ dội” (tiểu thuyết cho thiếu nhi, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, 1987)…

Phùng Quán là người suốt đời đau đáu, “cay cú” với thơ. Nổi danh ngay từ tuổi hai mươi với tiểu thuyết “Vượt Côn Đảo” nhưng thơ mới là cái đích mà ông đeo đẳng. Ông kể “Nhưng với tôi thơ mới là tất cả. Thơ là lý lịch, là mạng sống đời tôi. Là người lính dãi dầu trận mạc, tôi tin vào sức mạnh của Thơ như tin vào sức mạnh của vũ khí”. Lẽ đời, yêu cái gì quá thì khổ vì cái ấy. Kẻ si tình khổ vì người mình tôn thờ. Phùng Quán cũng “Một đời lao lực / Một đời cay cực / Một đời thơ!”.

Đầu đời, thơ ông hừng hực như khẩu hiệu có vần, khi ca ngợi cũng như khi phản kháng, với những hình tượng thô sơ nhưng ấn tượng. Đây là hình ảnh cô gái xứ Nghệ đi biểu tình bị kẻ thù bắn giết “Cờ của người nghèo máu tươi chan chứa / Máu ứa từ đôi vú thanh xuân / Như bông hoa chớm nụ tinh sương / Đạn théo quân thù, kẻ đầu tiên chạm đến!”. Đây là lời của cô gái khi vĩnh biệt cuộc sống “Tôi chết rồi quê hương ơi!.../ Tôi không còn được thấy ngày mai / Làng ta có đồng chí cố nông làm chủ tịch…”. Ngày nay đọc lại những dòng này, ta không khỏi mỉm cười vì sự giản đơn, công thức trong lối khắc họa hình tượng người cách mạng. Nhưng thời ấy (1955), Phùng Quán thành tâm biết bao.

Cũng thật thành tâm, khi ông viết bài thơ với tựa đề 100% khẩu hiệu “Chống tham ô lãng phí” (1956): “Bọn tham ô, lãng phí, quan liêu/ Đáng đã phê bình trên báo/ Còn bao tên chưa ai biết ai hay?/ Lớn, bé, to, cao, thấp, béo, gầy…/ Chúng nảy nòi, sinh sôi như dòi bọ!/ Khắp đất nước đâu đâu chẳng có!”. Có phải vì sự cả giận, lớn tiếng ấy mà ông bị hiểu lầm, bị ghét bỏ, lận đận suốt ba mươi năm “cá trộm, rượu chịu, văn chịu?”. Đến khi có điều kiện “tái xuất văn đàn”, độc giả thực sự ngạc nhiên thấy hoàn cảnh chẳng tác động đến tính cách ông, đến thơ ông là mấy!

Vẫn sự cuồng nhiệt, lớn tiếng đến dài dòng ngày nào, có chăng là thêm một chút đắng đót, một chút ngẫm ngợi. Cái “một chút” này đã cứu cả đời thơ Phùng Quán. Thơ ông vốn để nghe bằng tai, nhất là nghe chính ông diễn xướng, nay đã có thể đọc bằng mắt. Bài “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe” vẫn có cái dài dòng văn nói rất Phùng Quán, nhưng đã phần nào trầm tĩnh, điềm đạm; “Ngàn năm nay sông Tương/ Sóng còn nức nở mãi/ Khóc chuyện áo bông sờn/ Đắp mặt thơ chết đói!... Vụng về tôi dỗ vợ:/ Em ơi đừng buồn nữa/ Qua rồi chuyện ngàn năm/ Bao nhiêu nước sông Tương…/…

Bài “Huyệt” vẫn trong cái mạch đắng đót ấy nhưng chắt lọc hơn nên thơ hơn, dễ động lòng người hơn. “Tết không vào nhà tôi/ Tết đi qua trước ngõ/ Tim tôi tan nát rồi/ Không còn lành được nữa!”. Khổ thơ đầu rưng rưng. Khổ thơ thứ tư hờn dỗi (cái dỗi của một ông già 60tuổi): “Tôi sẽ đào nấm huyệt/ Cạnh mồ cha mẹ tôi/ Tôi sẽ lăn xuống đó/ Thế là xong một đời!”. Hai khổ cuối khinh bạc, tàn nhẫn, với những hình ảnh ghê rợn, nghe như một tiếng cười hả hê bỗng nhiên chuyển thành tiếng khóc “Đàn mối của quê hương/ Sẽ thay phu đào huyệt/ Bao nghiệt ngã trần gian/ Chỉ dăm ngày vùi hết/ Căn hộ mới đáy huyệt/ Rượu đất tôi uống tràn/ Cụng ly cùng dòi bọ/ Mừng trắng nợ trần gian!”.

Bài “Say” cũng một dòng thơ bi phẫn này. Một người tự nghĩ mình có tài, cuối đời nhìn lại thấy hầu như trắng tay, rất dễ có những cơn say như thế: “Tăm tăm tình bạn/ Chếnh choáng tình đời/ Líu lưỡi tình người/ Nôn nao thân phận!.../ Ha ha, ha ha/ Cười đâu ta khóc/ Ta cười Lý Bạch/ Cười dòng sông trong/ Cười Bạch Cư Dị/ Cười bến Tầm Dương/ Ta cười giai nhân/ Mặt hoa che đàn…/ Ta cười thân ta/ Thiên sinh ngã tài…/ Mà ta vô ích/ Vô ích! Vô ích!/ Ta cười rượu xoàng/ Uống hoài vẫn tỉnh/…”. Bốn chữ “Vô ích! Vô ích!” là một kiểu tiếng đế của sân khấu dân gian. Thơ Phùng Quán có nét diễn xướng là thế. Cái tư thế này (gặp ở nhiều bài) cũng là diễn xướng “Ngày ra trận/ Tóc tôi còn để chỏm/ Nay trở về/ Đầu đã hoa râm…/ Sau cuộc trường chinh ba mươi năm/ Quỳ rạp trán xuống đất làng/ Con tạ…”.

Phùng Quán ít làm thơ tình. Ông trước hết là một nhà thơ công dân, với niềm đam mê lý tưởng. Về mặt này, ông giống Tố Hữu, cậu ruột ông. Bài “Hôn” (1954) có mặt trong nhiều tuyển thơ tình yêu, thật ra cũng là một bài thơ công dân “Nhưng dù chết em ơi/ Yêu em anh không thể/ Hôn em bằng đôi môi/ Của một người nô lệ!” (Có thể liên hệ đến Tố Hữu trong “Bài thơ xuân 1961”… Trái tim anh đó/ Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ/ Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều/ Phần cho Thơ và phần để em yêu…). Trong bài “Tự kiểm điểm” (1956) Phùng Quán viết “Tôi căm ghét bọn lãng phí tham ô/ Nguyền rủa chúng chẳng tiếc lời tiếc chữ/ Nhưng rồi tôi cũng tham ô/ Thơ ca Đảng giao sản xuất ra/ Tôi đã lấy đi dăm bảy bận/ Gặp người yêu chút quà nhỏ tặng nàng...!” Thì ra tình yêu cũng có tính “đồng đại”. Chỉ đến cuối đời, trong Tiểu thuyết - Thơ “Trăng Hoàng Cung”, hình như Phùng Quán mới có những bài thơ đúng nghĩa thơ tình? “Chán chộ” (chương bốn, “chộ” tiếng Huế nghĩa là ngó, thấy) là một bài thơ tình vận dụng lối nói dân gian rất dễ thương “Mới bước chân ra/ Anh đà quay lại/ Mặt em anh chộ cả ngày/ Anh không chán răng anh…?/ Nói chi mà lạ rứa em/ Có khi mô con chim bay chán trời xanh/ Con cá lội chán nước/ Ngọn lửa chán củi cành…/ Chỉ khi mô/ Con sông chán chảy/ Ngọn gió chán thổi/ Cây đờn chán dây/ Bàn tay chán ngón/ Cái nón chán quai/ Vừng trăng chán soi/ Rễ cây chán đất/ Đến bấy chừ/ Anh mới chán chộ mặt em”.

Thơ Phùng Quán mới đọc thì nhạt, càng đọc càng có vị, nhất là khi ta nghĩ đến cuộc đời vất vả của nhà thơ. Nếu cần chọn một bài tiêu biểu cho Phùng Quán tôi không ngần ngại chọn bài “Lời mẹ dặn” (1957). Vẫn luộm thuộm, dài dòng như hầu hết các tác phẩm của ông, nhưng “Lời mẹ dặn” có những đoạn đã đạt đến độ sâu sắc của châm ngôn mà vẫn thiết tha, tươi rói hồn thơ: “Yêu ai cứ bảo là yêu/ Ghét ai cứ bảo là ghét/ Dù ai ngon ngọt nuông chiều/ Cũng không nói yêu thành ghét/ Dù ai cầm dao dọa giết/ Cũng không nói ghét thành yêu…”./.


NGUYỄN HOÀNG SƠN
(Phùng Quán- Thơ với tuổi thơ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác