Lê Đình Ty- Thơ không chỉ là người, thơ còn là đời!

 

Lê Đình Ty- Thơ không chỉ là người, thơ còn là đời!  - ảnh 1 (Toquoc)- Ngày 13-6-2013, nhà thơ Lê Đình Ty - Hội viên Hội VHNT Quảng Bình đã qua đời vì tai nạn giao thông, hưởng thọ 67 tuổi. Anh là bạn cùng lớp cấp 3 với các nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh, Hải Kỳ, Đỗ Hoàng.

Tôi và Lê Đình Ty quen nhau hết sức tình cờ. Hồi đó, tôi là sinh viên mới ra trường, được ty Giáo dục Quảng Bình điều động lên dạy ở Quy Đạt, thuộc huyện Minh Hoá, thế chỗ cho một giáo viên văn “khắc tính” với hiệu trưởng. Đầu học kỳ hai năm học 1971 - 1972 Lê Đình Ty cũng được cử lên Minh Hoá chụp ảnh làm thẻ cho học sinh cuối cấp. Tuy mới gặp lần đầu nhưng tôi có cảm tưởng như chúng tôi quen biết nhau từ lâu, bởi chúng tôi cùng có niềm đam mê thơ ca. Chia tay Minh Hoá, tôi về dạy trường Sư phạm 10 + 3. Thời trường Sư phạm 10 + 3 đóng ở thị trấn Đồng Sơn (Cộn) tôi và Lê Đình Ty có dịp gặp lại nhau. Rồi chúng tôi cùng vào Huế. Lê Đình Ty làm ở hiệu ảnh Phú Xuân còn tôi thì dạy chuyên văn ở trường Trưng Trắc (Hai Bà Trưng).

Mấy chàng thi sĩ lang thang gồm Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, Ngô Minh, Đỗ Hoàng, Lý Hoài Xuân... thường tụ tập tại căn phòng “như tổ chim treo” của tôi. Hồi đó, cả nước đang nghèo nên bọn tôi đứa nào cũng “rớt mùng tơi”. Tôi từng viết bài thơ Chuột đói: Phòng tôi có chú chuột/ Nhịn đói mấy hôm rồi/ Soong nồi đều nhẵn bóng/ Chú đành gặm giấy thôi... Thơ Đỗ Hoàng còn chua chát hơn: Tôi về sống nhờ vào vợ/ Sớm hôm buôn bán tảo tần/ Nuôi tôi như đeo cái khổ/ Tháng ngày tàn tạ sắc xuân...”. Bởi thế nên khi đọc bài thơ Cùng cảnh của Lê Đình Ty tặng Hải Kỳ, tôi tưởng như đang sống lại cái thời đầy cam go ấy. Dạo đó, Hải Kỳ đang học ở trường đại học Sư phạm Huế. Đồng lương còm của vợ chồng anh không đủ nuôi hai con nhỏ nên mới có chuyện: Mai mày ra - vợ ốm/ Túi rỗng không đồng xu/ Mày chạy vay khắp ngả/ Đêm Huế mưa mịt mù... Lê Đình Ty cũng chẳng hơn gì: Tao tìm đến thăm mày/ Phong phanh vạt áo mỏng/ Túi đầy gió căng phồng/ Nợ còn hơn chúa chỗm! Người ta khi bị dồn vào thế bí thường “nhắm mắt đưa chân”. Lê Đình Ty bàn với bạn: Cửa nhà giàu đóng kín/ - Hải ơi! Thôi chờ tao/ Cùng về thăm mẹ yếu/ Liều một chuyến nhảy tàu! Hồi đó, tôi đang học Cao học ở Vinh nên không biết cuộc hành trình của hai thi sĩ như thế nào? Hai thi sĩ nhảy tàu trót lọt không? Có thấp thỏm như tôi từng thấp thỏm mỗi lần về quê nhảy liều xe thời chiến tranh không? Tôi tưởng tượng cảnh hai chàng thi sĩ phải tìm cách lẫn trốn những người kiểm soát vé tàu mà lòng đau nhói. Nhà Lê Đình Ty ở thị trấn Đồng Sơn. Ngày chủ nhật cũng phải tranh thủ “vợ cuốc đất trồng khoai, chồng lên rừng hái củi”. Trước những tháng ngày vận hạn, gia cảnh Lê Đình Ty đã hết sức khó khăn: Túp lều tranh hư dột mấy năm liền/ Nhà chật chội, bảy mạng người sớm tối/ Bạn đến thăm không chỗ nằm phải gửi/ Đêm láng giềng thương bạn ngủ ngon không? Vốn dễ tin và đa cảm, trong những tháng ngày lang thang bên bờ sông Kiến Giang, Lê Đình Ty cứ ngỡ mình gặp được “nàng thơ” mà chàng hằng mơ tưởng. Lòng chàng dạt dào cảm xúc. Tôi mừng thầm cho chàng: Tìm mãi giữa Ngân Hà/ Bỗng gặp ngôi sao lạ/ Sao sáng từ bao giờ/ Mà không ai biết cả! Đột ngột nhận được tin dữ, tôi rụng rời chân tay. Đúng là “Sông sâu còn có kẻ dò/ Ai từng bẻ thước để đo lòng người”. Tôi nhảy tàu ra bệnh viện Cu Ba thăm Ty. Nhìn Lê Đình Ty, tôi không sao cầm được nước mắt. Ôi, cái gương mặt thư sinh như thế mà bây giờ... Lê Đình Ty đưa tôi xem bản thảo bài thơ anh vừa mới viết, nét chữ xiêu vẹo: Mấy hôm nay ba sốt li bì/ Đâu biết chuyện con đi bán nước/ Giữa trưa hè dầm dề áo ướt/ Được hai đồng, mừng rỡ con khoe... / Nhớ những ngày công tác tàu xe/ Nơi bến đỗ, nghe rao: Ai nước! Nước!/ Thương bọn nhỏ, nào đâu có khát/ Tiền nước này, cầm lấy cháu ơi!/ Ôi, hôm nay đến lượt con tôi!/ Năm sáu tuổi đã ra đường bán nước/ Tôi ốm đau chẳng làm gì thêm được/ Vợ một mình lo chạy bảy người ăn/ Con ơi con! Năm tháng khó khăn/ Kiếm được đồng xu, đổ mồ hôi, nước mắt/ Trên giường bệnh đêm đêm ba thức/ Ba thương hoài chuyện bán nước của con! Đọc hết bài thơ, tôi nghẹn ngào không nói nên lời. Nước mắt tôi ướt nhoè trên trang bản thảo. Lê Đình Ty còn làm cả thơ độc vận vịnh Cảnh nhà: Mấy ngày rồi hết gạo/ Thèm củ sắn củ khoai/ Vợ trực về nhịn đói/ Lo chạy bữa ngày mai/ Ba con còn nhỏ dại/ Đứa ghẻ, đứa đẹn sài/ Bố mẹ già ốm yếu/ Đi bước một, bước hai/ Không đồng tiền, bát gạo/ Chẳng biết cậy nhờ ai/ Làng quê đang nghèo khó/ Trời một màu giêng hai/ Ba con ngủ dậy muộn/ Đứng trước sân ngáp dài.... Cả bài thơ độc mỗi vần “ai” nghe thật não nề.

Người mà tôi hết sức khâm phục chính là Thêm - vợ Lê Đình Ty. Khi Ty lâm nạn, tôi biết là Thêm rất giận chồng. Có người vợ nào trên thế gian này rơi vào hoàn cảnh của Thêm mà không tức, không giận! Nhưng xử sự theo cách của Thêm thì quả là có một không hai. Thêm nén cơn tức giận, tất tả chạy ngược, chạy xuôi vay tiền lo thuốc men cho chồng. Thêm một tay vừa chăm sóc chồng vừa lo việc cơ quan vừa nuôi dạy con cái. Đây là những dòng Lê Đình Ty viết về Thêm: Một tuần trôi bề bộn đâu đâu/ Ngày tám tiếng cơ quan vàng ngọc/ Sáng dậy sớm, tối thức cùng trăng mọc/ Lo việc nhà, lo chạy chợ cháo rau... Thêm còn thu xếp đưa chồng ra tận Hà Nội điều trị và chỉnh hình hết sức vất vả, tốn kém. Và Thêm đã được đền bù xứng đáng. Lê Đình Ty sau những tháng ngày vận hạn càng thương vợ con hơn. Anh thực sự là trụ cột của gia đình: lo thu xếp công ăn việc làm, lo dựng vợ gả chồng cho các con... Lê Đình Ty cần mẫn chăm sóc nương vườn. Những lúc thật rảnh rỗi anh mới ngồi lai rai với bạn bè hoặc viết lách. Anh nhắn với Ngô Minh - bạn cùng lớp thời cấp III Lệ Thuỷ: Tôi trở về tàn tạ thân trai/ Đau đớn tâm tư, thay đổi hình hài/ Tôi đứng khóc nhớ câu thơ của bạn/ Trên đồng hoang chẳng bóng một ai/ Mai bạn về nhớ ghé thăm tôi!/ Cửa chẳng đóng đâu đồng xanh đã gặt/ Ta đã có những gì không để mất/ Đem câu thơ tình bạn đính lên trời. Lê Đình Ty mở lòng cùng mọi người: Hãy đến ở căn phòng tôi bé nhỏ/ Bên gốc nhài thoang thoảng hương đêm/ Trải chiếu ta ngồi cần chi bàn ghế/ Rượu uống suông trăng sáng bên thềm. Phải bản lĩnh lắm, phải nghị lực lắm, phải hiểu và yêu đời lắm Ty mới gượng dậy vượt qua mặc cảm, vượt qua số phận để trở lại chính mình: Tôi - Hạt mầm bay trong gió/ Quặn đau đến tận bây giờ/ Chẳng gặp nước/ Chẳng gặp lửa!/ Ơn người! Người đã gieo tôi/ Đắng cay khát khao hy vọng/ Hạt mầm trong gió/ tôi ơi! ( Lời hạt)

Điều đáng mừng là Lê Đình Ty vẫn miệt mài, thuỷ chung với thơ ca. Dẫu biết rằng “thơ phú bọt bèo” nhưng anh vẫn “ước gì còn lại câu thơ/ long lanh giọt lệ nối bờ buồn vui!”. Cái làm anh lo sợ không phải nghèo đói, khổ đau, bệnh tật mà là: lúc dở dơi, dở chuột/ Cánh đồng văn giẫm tuốt mà đi/ Giàu sang danh tiếng chi chi/ Thơ không hồn phách còn gì tuổi tên. Có trải qua những tháng năm vận hạn Lê Đình Ty mới viết được những bài thơ đứt ruột như: Trên giường bệnh nghe tin con, Cảnh nhà, Tâm sự... Thơ không chỉ là người, thơ còn là đời! Thơ không phải là những thứ ba lăng nhăng, hoa hoè, hoa sói, xáo xào chữ nghĩa. Đọc những bài thơ Lê Đình Ty viết trong những tháng năm vận hạn, tôi càng vững tin như vậy.

Mai Văn Hoan

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác