Kỷ niệm với Hà Khang

(Toquoc)- Trước khi rẽ sang con đường sáng tác kịch bản sân khấu, Hà Khang đã nổi danh với thơ những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp và nổi trội là hai bài 'Phước lành' và 'Có một mùa chiêm'. Một giọng thơ mới mẻ, hay, rất riêng, hoà chung với cả “bè” tiếng thơ kháng chiến ngày ấy!

“Bè” tiếng thơ kháng chiến ngày ấy có Nhớ máu Tình sông núi của Trần Mai Ninh; Nhớ của Hồng Nguyên; Màu tím hoa sim của Hữu Loan; Lên Cấm Sơn của Thôi Hữu; Khóc hoài của Vĩnh Mai; Mưa núi của Minh Hiệu.  

Phước lành của Hà Khang còn được một nhạc sĩ (tôi không nhớ tên) phổ nhạc, nên sức vang xa càng lớn.

Thời ấy tôi còn là học sinh, nhưng đã biết tên tuổi Hà Khang nhờ Phước lànhCó một mùa chiêm. Hai bài thơ ra đời cùng lúc với công việc phóng viên và biên tập viên của anh ở báo Chiến sĩ của Quân khu Bốn.

Hà Khang quê gốc ở Ninh Bình, nhưng gia đình vào sinh sống ở thành phố Thanh Hoá từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 khi anh hãy còn nhỏ tuổi. Tôi biết anh, biết chứ đương nhiên là không quen, không có quan hệ tiếp xúc, bởi anh lớn tuổi hơn tôi nhiều, lúc gia đình anh tản cư vào Voi, ở gần với gia đình bà bác ruột tôi và anh thường dừng lại nhà mỗi chuyến công tác.

Mười bốn năm sau, sau 1965, khi miền Bắc phải đánh trả cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, do sự tình cờ của nghề nghiệp, tôi chuyển từ ngành giáo dục về Ty văn hoá làm Tập san Người bạn Văn hoá với nhà văn Nguyễn Thế Phương, thì mới thật sự có quan hệ với anh. Anh Hà Khang ở phòng Văn nghệ với anh Mai Bình, Minh Hiệu và sáng tác kịch bản đã là nghề chính của anh rồi. Thơ chỉ còn là công việc tay trái của anh thôi, mỗi lúc có yêu cầu của hiện thực chiến đấu và sản xuất. Như thế cũng có nghĩa là Hà Khang không đoạn tuyệt được hẳn với thơ. Nhưng công bằng mà nói, không còn hương sắc tài hoa cái thời Phước lành Có một mùa chiêm. Điều đó thật dễ hiểu, cảm hứng thơ không còn đau đáu giữa tâm hồn Hà Khang nữa. Anh đã là nghệ sĩ thực thụ của sân khấu rồi.

Thật lòng tôi vần tiếc đã mất một Hà Khang thơ. Giá như anh vẫn chung thuỷ với thơ trong khi vẫn chí thú với kịch.

Thế rồi, tôi và anh lại gián cách nhau hơn bốn năm, khi tôi chuyển sang Ban vận động thành lập Hội Văn học Nghệ thuật. Nhưng không vì thế mà “xa lòng”. Thỉnh thoảng tôi và anh vẫn gặp nhau vì lúc này tuy đã hai biển (Ty và Hội) nhưng vẫn là một nhà, một hoạt động văn nghệ. Tôi vẫn gợi lại dĩ vãng huy hoàng về thơ của anh với hy vọng lay thức được chăng cái tình thơ và tài thơ trong anh…

Những người làm văn nghệ Thanh Hoá đều biết một tình bạn gắn bó keo sơn, còn hơn ruột rà giữa Hà Khang và Mai Bình. Một tình bạn mà như tình trai gái phải lòng nhau. Thật hiếm, thật đáng quý. Cả hai người đều là nhà sáng tác kịch bản. Và trong lĩnh vực này quả thật Hà Khang đã neo được trong lòng người đọc người xem thành tựu đáng kể. Ngôn ngữ kịch bản của anh tinh và mượt lại hàm súc, do vậy có chiều sâu.

Thế rồi, lại một sự tình cờ nữa đưa tôi và anh về sống với nhau sau ngày Hội chính thức thành lập, từ 1974 đến năm 1979. Anh được Đại hội bầu làm Phó chủ tịch, chuyển hẳn từ Ty sang Hội làm việc. Phải đến quãng thời gian này tôi mới hiểu thêm và hiểu đầy đủ về Hà Khang. Có một điều này, lâu nay nhiều người làm văn học, kể cả tôi, thường mang ấn tượng không thoải mái khi tiếp xúc với anh. Anh trầm lặng lắm! Trầm lặng đến độ có không ít người bảo anh như bức tượng, lạnh lẽo. Nói cách khác, người ta bảo anh nghèo tình cảm.

Thật lạ, có gì như mâu thuẫn trong con người, trong cuộc sống nội tâm của Hà Khang. Nếu như nghèo nàn, khô cứng tình cảm thì làm sao trở thành nghệ sĩ của những bài thơ nổi tiếng thế kia kể cả những kịch bản sân khấu tiếp đó.

Nhờ thời gian và sự gần gũi, tôi nhận ra và cắt nghĩa được tính cách của anh. Ấn tượng và sự so sánh đã nói trên kia là đúng. Nhưng chỉ đúng với cái mà người ta thấy hiển lộ ra bên ngoài của Hà Khang thôi. Anh rất nhỏ nhẹ trong giọng nói, rất kiệm lời trong mọi lúc biểu lộ ý nghĩ, ý kiến của mình về công việc, về sự đánh giá ai đó ở khía cạnh tốt hoặc không tốt. Anh chẳng bao giờ có thể “tăng cường” âm điệu của tiếng nói được, kể cả những lúc bất bình. Ngay đến nụ cười, người ta cũng không bao giờ nghe anh cười phá lên, cười hết cỡ. Con người Hà Khang là nhân từ. Nụ cười Hà Khang cũng vậy. Tố chất bẩm sinh của anh là vậy. Bắt anh giống như người khác làm sao được. Mỗi người trên đời này mỗi nết mà.

Và tôi nghiệm ra, tuồng như sự trầm lặng của Hà Khang lại rất tốt cho sự “phán xét” về chất lượng của các tác phẩm gửi đến Tạp chí Văn nghệ của Hội. Anh tỉnh táo, công bằng, công tâm. Không thấy anh để tình cảm riêng tư chi phối công việc chung. Đã vậy lại do có tài năng mà anh không nhầm lẫn phẩm chất của sáng tác. Hà Khang là con người chân thật, không mưu mẹo mưu toan gì hết.

Cũng như nhiều người, cuộc đời anh có những nỗi buồn. Tôi biết là người sáng tác, có thời gian dài anh buồn tưởng đến bỏ bút vì tác phẩm không được phép công diễn sau lúc màn hạ, khép lại buổi diễn thử. Đó là một ví dụ thôi. Song, sự trầm lặng khiến người ta ngỡ là anh lãnh cảm thì hàon toàn không phải bắt nguồn từ những nỗi buồn.

Những ngày công tác với anh, tôi thường được nghe anh trò chuyện, tâm sự. Càng hiểu anh, tôi càng tiếc cho anh, tài thơ như thế mà chỉ đi qua một đoạn đầu đời của một thi sĩ thì rẽ sang con đường khác (dẫu rằng cả đoạn dài dặc tiếp đó anh đã có thành công không nhỏ). Nên đã hơn một lần, tôi rủ anh trở lại với thơ. Anh chỉ trả lời tôi bằng nụ cười mà qua đó tôi có thể cảm nhận ý anh! Rồi một lần nữa, tôi lại rủ anh. Và lần này thì anh nói hẳn ra: “Mình đã rẽ sang con đường Kịch và đi quá xa rồi, không quay lại được nữa, thời gian lại cẳhng còn bao nhiêu cho mình. Thôi, xin làm độc giả của thơ vậy”.

Thôi, anh đã thật như thế, thì nói gì thêm cũng là không nên. Ở đâu và bao giờ cũng có thơ của một lúc một ngày, thơ của một thời và của mọi thời. Mấy thi sĩ có được thơ của mọi thời. Chỉ hai bài Phước lànhCó một mùa chiêm ấy, Hà Khang đã là thi sĩ của một thời rồi, từ 1948 đến tận giờ, người đọc vẫn còn nhắc nhở. Được thế cũng đâu phải là chuyện dễ, cũng là hạnh phúc lắm lắm cho một người cầm bút.

Bây giờ Hà Khang đã thành người thiên cổ. Thanh Hoá là vùng đất mà anh đã chọn làm quê từ thuở thiếu thời ghi nhận mãi mãi thơ Hà Khang, kịch Hà Khang và nhân cách Hà Khang.

Thái Thi

Hà Khang

Hà Khang quê gốc ở Ninh Bình, gia đình chuyển vào thành phố Thanh Hoá từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 khi anh hãy còn nhỏ tuổi.

Là chiến sĩ văn Liên khu Bốn, phụ trách đặc biệt ở mạn Bình Trị Thiên. Tác giả nhiều thi bản mầu sắc địa phương.

Thơ Hà Khang mạnh, ý mới, kĩ thuật bình dị, nhưng không vì thế mà sơ sài.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác