Khúc đàn bầu thân phận

Vũ Quần Phương

Trần Nhuận Minh đã có đến bốn mươi năm làm thơ. Ông kiên trì tìm hiểu bản chất của thơ và luôn luôn cố gắng nhìn cho ra thực chất của đời, chịu thay đổi bút pháp và cả quan niệm sáng tác để thơ đến được bạn đọc và có ích. Ông đã được Giải thưởng Nhà nước về thơ.

Khúc đàn bầu thân phận  - ảnh 1Nhưng khi nhìn lại, ông coi hai mươi năm đầu, những gì ông viết chỉ là những tập dượt, chưa đụng được vào chất thơ của đời, mới chỉ là những phản ánh thực tế nông nổi theo thời cuộc. Sau chiến tranh, nhất là sau khi quốc sách Đổi mới tác động lên toàn xã hội, Trần Nhuận Minh đã mở được hướng viết mới của mình. Ông tỉnh táo và tin vào mắt mình khi nhìn thực chất xã hội, khi dõi theo những số phận người. Không cố tình ca ngợi cũng không ý định phê phán, Trần Nhuận Minh chỉ muốn thể hiện đúng nhất, bản chất nhất cái cuộc đời vốn có. Bút pháp hiện thực nghiêm khắc, sâu sắc và hàm súc đã giúp ông lưu giữ được cả tâmsự của một giai đoạn giao thời khác nhiều nghịch cảnh, nghịch lý của cái xã hội “làm chủ tập thể” đang tư bản hóa theo “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Thơ Trần Nhuận Minh giai đoạn Nhà thơ và hoa cỏ này, thật sự có một vị riêng, cái vị hiện thực đắng chát và ngọt thấm như vị chè Thái làm người khó ngủ. Thơ ấy đã có phần đóng góp mang dấu ấn Trần Nhuận Minh vào nền thơ chung của đất nước.

Nhưng chỗ đến đích cũng dễ là chỗ hết đường.

Thơ hiện thực mà thực được đến thế là tài nhưng cứ thế mãi thì đơn điệu, còi cọc. Lãng mạn mộng ảo xưa nay vẫn là nơi dễ cho thơ rộng cánh. Trần Nhuận Minh từ tập Bản xô nát hoang dã hướng về lãng mạn và suy tưởng, nâng thơ lên cõi ảo. Không phải chỉ ảo trong bút pháp mà ảo cả ở đề tài lẫn chủ đề. Khi thơ Trần Nhuận Minh còn lẫn trong thơ đồng đội, ở giai đoạn hiện thực phản ánh vẫn mảnh mai lẩn khuất một mạch thơ hư ảo. Nó chưa đủ trọng lượng để dư luận quan tâm nhưng chính nó lại đã tạo thêm độ lắng, độ trong cho thơ vùng mỏ Trần Nhuận Minh (Chiều Yên Tử, Chơi thuyền trên vịnh Hạ Long...). Tập thơ này (cái tên đặt bằng thể loại âm nhạc phương Tây hơi làm mờ chủ đề) ghi nhận bước chuyển cần thiết của tác giả nhưng chưa gây ấn tượng thẩm mỹ hoàn chỉnh cho bạn đọc. Đã có những đoạn hay, suy tưởng bằng hình ảnh thân gần, diễn đạt tình cảm tinh tế. Nhưng trong toàn thể, Bản xô nát hoang dã chưa có sức liên kết nội tại. Ý nghĩ muốn tìm về cõi thoát, rũ nhẹ mọi ràng buộc của đời mà trong lòng xem ra còn quyến luyến lắm điều ham vui trần thế. Chỉ muốn tiêu dao mà lòng chưa thoát tục.

Vẫn trong khuynh hướng ấy, nhưng 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh, xuất bản năm 2007 đã tránh được nhiều khuyết điểm của Bản xô nát hoang dã. Tác giả làm một cuộc viễn du, tạm đứng ra ngoài đời mà nhìn lại chính đời mình. Nhiều suy nghĩ sâu, đượm hơi hướng triết học, mà lại thiết thực như một lời khuyên vào công việc hàng ngày. Suy tưởng khái quát như ôm vào thân phận nhân gian của mọi thời, nhưng xuất phát lại từ thế sự cụ thể của hôm nay, từ tâm trạng của bây giờ. Có cảm tưởng sau những bừng bừng nóng, giận, buồn, đau... đồng hành với từng việc của từng người ở giai đoạn Nhà thơ và hoa cỏ, Trần Nhuận Minh như đốn ngộ, sững lại, nghĩ xa hơn, chung hơn về thân phận con người, về hạnh phúc, hi vọng và cả nỗi bất hạnh “hữu thân hữu khổ” của nhân gian. Tuổi ấy, thời ấy, thế ấy thì nghĩ vậy cũng là quy luật. Giọng tự sự miêu tả tưởng như quen bút của Trần Nhuận Minh đã thành giọng trữ tình chiêm nghiệm. Một cuộc đối thoại với hư không về chính nỗi lòng của mình, cái nỗi lòng còn bao nhiêu quyến luyến với cuộc đời này mà mắt nhìn đã chạm vào chung cục. Những câu thơ dào dạt nhất là khi gợi vào hình ảnh quê hương, hàm chứa tinh hoa của cảnh và tinh chất của hồn, quen thuộc tự bao đời:

Nhà lá ba gian

Kẽo kẹt tiếng võng

Ao mơ hồ mờ mịt khói sương

Cảnh của hoài niệm, nghe đọng nhiều đắm đuối nhớ thương. Chất tâm hồn người viết tạo nên không gian mơ mộng như trong cổ tích, thiên nhiên giao cảm với con người. Cây biết nghe mùa thu hiu hiu buồn trong lá và đất rạo rực với đêm xuân mà ran tiếng côn trùng, tình yêu của người làm gió trăng thành không có bến bờ, hoa thì rơi đầy trời và trăng lụa sáng vai cô gái quê. Qua cảnh mà đọc được lòng yêu thẫn thờ của Trần Nhuận Minh với những nét cố hữu của đất đai xứ sở. Không khó khăn gì để ông nhập hồn vào mộng và trong mơ mộng ông lại nhận ra bản chất thiên nhiên theo phương thức của ông: biển thức trong sóng, gió thức trong cây, còn nhà thơ, ông để thức hồn mình trong chữ. Thiên nhiên, dưới mắt ông, ôm ấp con người, con người thì kết tinh trong tình yêu của họ. Tình yêu với chữ Em viết hoa và sự đợi chờ đến làm thiên nhiên hoảng hốt:

Buông trên vai Em

Mà đêm mượt như nhung

Lọc qua áo Em

Mà hương trời thơm vậy

Những ngôi sao yêu nhau ríu rít ở trên cành

Ta đứng chờ Em bạc cả sắc thu xanh

Mơ mộng để cảm thụ và cũng để kỳ ảo hóa thiên nhiên. Câu thơ đẹp hài hòa và dạt dào cảm xúc trong phong vị triết học phương Đông. Mơ hồ và khơi gợi. Nhưng khi đụng tới những quan hệ xã hội, tư duy Trần Nhuận Minh như tỉnh mộng, trở nên lạnh sắc, phát hiện nhiều nghịch lý, nghịch cảnh. Ông vẽ chân dung cái thời nói chẳng ai nghe, trỏ chẳng ai nhìn, bằng lòng nên không ưa sáng tạo, mà ông gọi là cao ngạo và quan liêu, chỉ bằng một hình ảnh ẩn dụ, một nhận xét:

Chỉ cần đoàn kết, chẳng cần tài năng

Cây cỏ thu mình trong hàng rào danh dự

Bông hoa không thể nở ngoài tường.

Ông lo âu thấy cái tập thể đẻ non biến thành cái cá nhân còi cọc. Trai làng phóng @ như điên, đầu cạo trọc không thể là biểu hiện của sự giàu sang thịnh vượng. Cái hiện thực hôm nay, nhiều điều phấn chấn, nhưng đôi khi sao lại như có tiếng khóc ở bên trong:

Tổ tiên đã chết ở đây

Những gò đống cỏ xanh

Nay đã ủi đi rồi

San sát vũ trường

sân gôn

quán nhậu

Còn sót lại một cánh cò trắng mong manh

Thấp thoáng bay

Trong ráng đỏ chiều hôm không tìm ra chỗ đậu

Cách nhìn này có thể bị chê bai: ông hoài cổ không theo kịp công nghiệp hóa. Nhưng tôi nghĩ ông có lý, công nghiệp hóa văn minh rất coi trọng nhu cầu của tâm hồn con người. Chủ nghĩa thực dụng chụp giật ăn xổi ở thì mới gây nhiều hậu họa. Vả lại, như câu thơ Nguyễn Du khi thấy Thăng Long: Đường mới đè lên dấu cố cung, Trần Nhuận Minh đâu chỉ nói một nghĩa đơn vật chất của đổi thay. Trong Nhà thơ và hoa cỏ, ông đã thấy nhỡn tiền nhiều biểu hiện (gọi là) “thoáng” cụ thể của buổi giao thời, lắm thứ nhân danh cầu lợi. Ở đây cánh cò trắng không tìm ra chỗ đậu chỉ còn như một ẩn dụ có tính chiêm nghiệm. Điều đáng nói là ở vạt chủ đề này, Trần Nhuận Minh đã có được cái nhìn việc đời thấu đáo. Ông hướng tới những lợi ích thiết thực của người nông đân để bình giá chính sách ruộng đất: Bát cơm đầy hơn khi ruộng chia bé lại. Ông ca ngợi sự xuất hiện khái niệm cái tôi đã giúp nhân loại trưởng thành: Hoa nở vì hoa không phải nở vì mùa nhưng ông cũng nhận ra ngay cái mặt trái cực đoan, tham lam, nguy hại của nó. Những triết lí xa, xuất phát từ những nhận thức gần. Duy lí mà có tính thơ là nhờ vậy. Đôi khi suy tưởng của ông hôm nay lại trụng vào kinh, sách, thơ phú của thời xưa. Không mới về nd thì mới những hình ảnh đựng chứa nó. Cái chuyện Nhất tướng công thành vạn cốt khô hay Dãi thây trăm họ làm công một người vẫn còn là thời sự của hôm nay, khi đầu thai vào thơ Trần Nhuận Minh nó thành xương thịt khác.

Đêm đêm

Quân vương mở tiệc

Om thòm trống trận...

Ma cụt đầu xếp hàng dài trước sân

Những từng trải của một thế hệ từng chân thành nhen nhúm niềm vui riêng từ một mầu ngói mới trong thiên hạ và cũng từng thầm lặng ngậm ngùi nhìn người nông dân bị tách khỏi ruộng đồng, khô héo ngồi chờ việc ở chợ lao động, đã giúp cho Trần Nhuận Minh tin vào đầu dây thần kinh của chính mình. Giã từ những định kiến trên, để hỏi trở lại những câu hỏi tưởng như đã được trả lời. Phát hiện mới nhất của tập thơ này lại thuộc về một chân lí cũ, rằng hạnh phúc hay khổ đau mà con người tự cảm là chính xác, rằng ông trời ăn ở không cân:

Người chẳng bao giờ ngần ngại

Cấp rượu thịt

Cho những cái bụng quá no

Ban rét mướt

Cho những tấm lưng trần.

Rằng có thứ tưởng là kiểu mới hóa ra lại thuộc về những quy luật muôn đời, rằng có thời ngu dốt lại dạy người ta lương thiện. Nhìn bằng ánh mắt mình, nghĩ bằng đầu mình mà tìm ra niềm tin, ra cách hành xử việc đời. Trần Nhuận Minh âm thầm chấp nhận, âm thầm nhưng quyết liệt, đối đầu với thói lắt léo vụ lợi xu thời:

Kẻ khôn ngoan thường giấu điều mình biết

Ý nghĩ ở đằng đông

Miệng nói ở đằng tây

(...)

Giấu mưu toan dưới những cốc rượu đầy

Ta già rồi

Chẳng biết giấu vào đâu

Nỗi ngu dại

Học từ thời tốt đẹp

Nén hương tắt khi mình chưa trọn kiếp

Cầm chân hương

Đi đến cuối cuộc đời

Đây là sức nghĩ của trái tim. Tôi trân trọng nó và nhường việc luận bàn cho thời cuộc. Tập thơ này có một kết cấu linh hoạt. Các đoạn có thể đổi chỗ cho nhau và cũng chẳng cần tới những bốn nhăm khúc. Nó không phải là hồi ký dù nó có đụng vào nhiều sự kiện, thời cuộc. Tư duy thơ Trần Nhuận Minh muốn đi xa hơn thế. Ông muốn luận về cái có - không, thực - ảo của kiếp người. Cái phần bản thể luận tuy lãng đãng lẫn vào Thiền, vào Đạo gia, vào Kinh Thánh, vào thơ tân cổ điển, vào cả triết học hiện đại, nhưng lại là sợi dây xuyên suốt, xâu qua các chủ đề thời cuộc. Xưa cụ Nguyễn Gia Thiều đứng ra kêu lời ai oán của người cung nữ là do thôi thúc của thời thế tác động vào tâm hồn. Trần Nhuận Minh mượn tiếng đàn bầu dân gian, dân tộc nghĩ ngợi cái đời mình, cái kiếp mình cũng là một cách tìm chân dung thời mình sống. Để có người đối thoại, tác giả tạo ra một ông Thánh, gọi là Đấng Âm U. Đấng này to như tạo hóa nhưng cũng là cái bung xung để Trần Nhuận Minh trách cứ, giận hờn. Chả đụng vào ai mà lại đủ tầm hư ảo để một tấm lòng son, hai bàn tay trắng trình bày nỗi đến với niềm tin. Tác giả hỏi từ đâu mà sinh ra thân và sau khi chết thì hồn về đâu. Những câu hỏi có dáng triết gia, nhưng chả có tích sự gì, một thứ trang trí bình dân cho bút pháp. Nhưng trong cái đà hỏi vu vơ ấy lại dẫn tới một nghi ngờ Một đời sông/ chỉ có chảy thôi ư? Thì lại gợi đến một loạt các đáp số của bài toán trần gian còn cần giải lại. Những hình tượng thâm trầm ngẫm nghĩ:

Núi nghĩ mà xanh cây

Sông buồn mà bạc sóng

Những hình ảnh rát bỏng hồn người:

Những con lợn

Nuôi bằng thai nhi nạo

Khi chọc tiết

Khóc như người

Có những nhận thức kết tinh từ tuổi tác lòng mình: con người đã biết học ở cá để làm thuyền, học ở chim để làm tàu lượn tàu bay, nhưng biết học ở đâu để làm lại, làm nên chính mình? Lại có lúc phải nhìn ra xung quanh mà nhận biết lòng mình: trung thành với nguồn là sông ra đến biển.

Ở tập thơ này Trần Nhuận Minh có nhiều câu thơ đúc kết kinh nghiệm đời khá thanh thoát, có lí và có ích. Đây là kết quả của một quá trình. Thứ thơ này không thể ngồi nghĩ mà ra, nó là thứ thơ do sống mà thành. Danh hão và thực chất, bề ngoài và quy luật, tin tưởng và cảnh giác... chúng không hiện diện như những cặp phạm trù, để được biện luận bằng lô gích. Chúng tươi rói dấu vết cuộc sống một thày giáo cấp hai bỏ làng ra mỏ than dạy học rồi làm thơ, làm chủ tịch hội Văn nghệ cấp tỉnh, đêm ngày tất bật đăm chiêu những chuyện đâu đâu, bỗng một hôm chạm vào hoang dã, chạm nghe đàn bầu. Nhìn lại đời mình, chặng vui chặng buồn, tùy khúc. Nhưng nhận thức thì lúc nào cũng có. Quý là quý những tỉnh rượu tàn canh của nỗi lòng. Nó tội nghiệp thế mà bao nhiêu căng thẳng:

Mắt này ngủ

Thì mắt kia phải thức

Lúc gian nguy

Mình canh chính thân mình

Luận kiếp người nói bao nhiêu cho đủ. Hình như Trần Nhuận Minh cũng không định trước nội dung. Ông chỉ định giãi bày. Ông đã có được liền hơi cảm xúc về thân phận con người hiện đại và chính mình, đã tạo một không gian nghĩ ngợi, đúc kết mà nhiều xao xuyến bâng khuâng. Những khúc cuối cùng, viết như di chúc, ngập ngừng, lưu luyến, ngân xa:

Tiếng Ta thầm gọi bạn

Không chỉ một lần

Nhưng bạn chẳng nhận ra

Ngỡ tiếng gió mơ hồ

Thoảng trong vòm lá

Bạn đi qua...

 

(TC Thơ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác