Hồng Thế - Làm ruộng và … làm thơ!

Ngô Minh

(Toquoc)- Ở nước ta đa số nhà thơ nhà văn đều xuất thân từ nông thôn, tuổi nhỏ cũng theo mẹ ra đồng, cũng mò cua, bắt cá, chân lấm tay bùn, lớn lên đi học, đi kháng chiến rồi viết lách mà thành, sau đó “thiên di” lên phố thị làm trong các tổ chức văn nghệ hay ở một tờ báo nào đó. Còn người suốt đời ở làng quê, cày ruộng và làm thơ thì hiếm lắm.

Hồng Thế - Làm ruộng và … làm thơ! - ảnh 1Nhà thơ Hữu Loan đi kháng chiến chống Pháp làm đến chức Trưởng ty, về Hà Nội một thời gian, chán cuộc đấu đá văn nghệ, mới bỏ về đẩy xe thồ chở đá, cày ruộng ở Thanh Hóa. Còn cây bút thơ Hồng Thế ở Quảng Bình là một “nông dân làm thơ” thứ thiệt hiếm hoi đó !

Trong trích ngang ở bìa 4, tập thơ đầu tay Lời Mùa thu, Hồng Thế tự giới thiệu: “Nghề nghiệp: Làm ruộng”. Vâng, Hồng Thế làm ruộng và... làm thơ từ khi lớn lên cho đến nay ở làng Lộc Mỹ, xã Trung Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ấy là vùng quê rất nghèo “chợ Bố Trạch sắn nhiều hơn gạo” (Xuân Hoàng), nên bỏ cày bừa, bỏ ruộng đồng là đói. Tôi biết, có nhiều người mới in báo được vài bài ba bài thơ, đã tìm cách “chạy chọt” để “thoát ly” lên thành phố làm biên tập ở các báo; rồi tìm người lăng-xê thơ liên tục để xin vào Hội Nhà văn ! Hồng Thế không như thế... Tôi hỏi anh: “Thơ hay và nổi tiếng thế, sao cậu không lên tỉnh xin một chân biên tập báo đài ?”. Hồng Thế cười tủm tỉm: “Nhàn cái thân mình thì ruộng ai cày, ai nuôi mẹ, rồi ai nuôi con !” Về Trung Trạch chơi, muốn tìm Hồng Thế thì phải ra ruộng hoặc lên trang trại của anh trên vùng đồi, cách nhà gần chục cây số. Mấy năm nay, Hợp tác xã Trung Trạch điều Hồng Thế về làm chân “thống kê” cho Hợp tác. Nhưng làm xong việc thống kế anh lại ra ruộng, lại lên trang trại trồng cây, cuốc tỉa. Hồi bao cấp, điện lưới quốc gia chưa về xã, có lần tôi và nhà thơ Hoàng Vũ Thuật từ Đồng Hới đạp xe 17 cây số ra thăm Hồng Thế. Trưa nắng, đạp xe mướt mồ hôi, nên vào nhà thấy cây chanh vườn trĩu quả, mắt Hoàng Vũ Thuật sáng lên. Anh hái luôn chục trái rồi đi lục tìm dao cắt để vắt nước uống. Hồng Thế nghe tin bạn đến, vác cuốc từ ngoài ruộng về. Vừa thấy Hồng Thế, Hoàng Vũ Thuật bảo ngay: “Tớ vắt hai cốc nước chanh đây rồi, ông lấy cho ít đường và đá để uống cho mát. Khát quá”. Hồng Thế đỏ mặt, gãi tai. Tôi phát hiện ngay ra sự bối rối của Hồng Thế, bèn cười lớn, bảo với nhà thơ phố thị Hoàng Vũ Thuật: “Ông quan liêu ơi, dân quê làm gì có đường kính, có nước đá như cán bộ nhà ông. Cứ thêm nước giếng vào mà uống !”. Thuật ngớ ra: “Ừ nhỉ”.

Thế mà thơ anh được nhiều độc giả miền Trung mến mộ, được các nhà thơ rất vị nể từ những năm 80 của thế kỷ trước, nhưng anh vẫn sống bám làng quê với hai vụ chiêm mùa, với con trâu, cái cuốc. Anh làm ra hạt lúa để nuôi mẹ già, nuôi vợ con và làm ra những bài thơ để... chơi, để... nuôi mình! Là nông dân, Hồng Thế đã được Hội Nông dân Việt nam tặng Huy chương vì sự nghiệp Nông dân Việt Nam. Là nhà thơ, Hồng Thế là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình từ những ngày kháng chiến chống Mỹ. Hồi đó ai cũng thuộc bài thơ “Anh chờ ơi” của Hồng Thế. Bài thơ viết về một anh xã viên chăn nuôi mù, đang đêm nghe đài báo tin miền Nam giải phóng, sung sướng quá, thức dậy cho lợn ăn từ rất sớm: “Anh Chờ ơi, trời đã sáng đâu !”. Những chi tiết, hình ảnh đó không sống với làng quê không thể viết được ! Hồng Thế đã được Tạp chí Sông Hương tặng thưởng chùm thơ hay nhất in năm 1986 gồm 3 bài Đá Nhảy, Con Bò Lời mùa thu, đó là sự xét tặng rất tinh tường và chính xác. Anh còn được tặng Huy chương vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam. 57 tuổi, trên 30 năm làm thơ, chắt bóp lắm, Hồng Thế mới bỏ tiền túi tự in được hai tập thơ mỏng mảnh: Tập thơ Lời mùa thu (1990) chỉ 24 bài thơ, tập Nến Đồng (2003) 28 bài. Mỗi tập in vài trăm cuốn để tặng bạn bè. Nhưng khi nhắc đến bút danh Hồng Thế, các nhà thơ và bạn đọc miền Trung ai cũng vị nể, quý mến tài thơ của “anh nông dân một trăm phần trăm” này ! Tôi trộm nghĩ, một nông dân làm thơ hay như Hồng Thế là một hiện tượng lạ ở nước ta!

Đọc 52 bài thơ trong hai tập thơ Lời Mùa ThuNến đồng của Hồng Thế, điều dễ nhận ra là Hồng Thế lao động thơ rất nghiêm túc, đúng “phương châm” quý hồ tinh bất quý hồ đa như anh hay nói!. Thơ anh bài nào thi tứ, ngôn từ cũng rất “chuyên nghiệp”, chứ không dễ dãi. Bài Đá Nhảy viết về một thắng cảnh du lịch nổi tiếng ở quê anh là một bài thơ có tứ hay và mới mẻ. Mọi người đến Đá Nhảy để tắm biển, trèo đá, còn Hồng Thế ra Đá Nhảy để ngồi trầm tư trước muôn vàn hòn đá đang nhảy chồm ra sóng. Và anh đã khám phá ra sự sống luôn sinh động, đá cũng bắt chước người: Hình đá giống con thuyền cưỡi sóng/ Giống con người kéo lưới lên bờ / Giống con chim vút lên trời rộng / Lại giống như ai đứng đợi chờ... Hồng Thế chiêm nghiệm: Đá ở đây không còn là đá tảng/ Mặt nhẵn lý năm tháng nhoài qua. Nghĩa là đá vẫn có xúc cảm, chứ không như nhiều người trong cuộc đời, mặt nhẵn lỳ, vô cảm ! Để rồi đẩy tới một niềm tin, một triết lý của sự trường tồn: Còn Đá Nhảy đời còn mơ mộng / Còn trời xanh, còn biển rộng, còn say... “Đá còn nhảy đời còn mơ mộng” là một liên tưởng bất ngờ, gây được khoái cảm thẩm mỹ sâu sắc. Vì lẽ ấy mà có nhiều bạn yêu thơ ở miền Trung thuộc lòng bài thơ Đá nhảy của Hồng Thế .

Bài thơ Giao mùa trong tập Nến đồng cũng là một bài thơ hay, ám ảnh người đọc. Không trăn trở với mùa màng, không yêu quý ruộng đồng, chắc chắn không thể làm được bài thơ thẳm sâu như thế. Bằng một chuỗi hình ảnh đồng quê rất chọn lọc và điển hình, Hồng Thế đã vẽ thêm nét riêng của mình trên bức tranh quê Việt Nam hôm nay, khi mùa gặt đã vãn. Những câu thơ gợi lên niềm suy tư và nỗi buồn thấm thía: Không tìm thấy cánh cò trên ruộng lúa / Màu xanh non gấm vóc bay rồi... Nên:

Còn đâu đó những thân gầy năn lác

Đồng vãn mùa toóc rạ với rơm khô

Kẻ xúc tép loi choi người chài lưới

Con cò mồi trên ruộng đứng chơ vơ

......

Trong lều cỏ lão nông ngồi hát

Giọng trầm trầm giông gió quay ngang

Hình ảnh con cò mồi” đứng bơ vơ trên ruộng lúa là hình ảnh thơ đắt giá, chứng tỏ sự quan sát tinh tường của tác giả. Cảnh mà người, người mà cảnh, tất cả đều gầy guộc, buồn lắng và khát khao hy vọng. Ấy là thơ để gợi, để nghiền ngẫm, rất da diết. Thơ Hồng Thế hầu hết là chuyện nhà quê” với những cái tựa đề rất mộc như Con bê, Gửi lại tháng giêng hai, Mùa thu quê tôi, Đi mưa... (Lời mùa thu); hay Hoa chạc chìu, Lời nến, giao mùa, Bến quê... (Nến Đồng), nhưng lại mang đến cho người đọc sự đồng cảm sâu sắc. Nhìn cây nến cháy trên bàn viết, Hồng Thế đau đớn nhận ra thân phận con người: Phải giã từ ư, xin giã từ / Tôi - Cây nến cháy / Tận cùng chân nến ! Hai câu kết bài thơ, tác giả đã đẩy tới một quan niệm sống rất bản lĩnh, rất nhân văn: Cuộc đời trao tôi cây nến nhỏ / Tôi được sống khi cháy thành ngọn lửa ! Đúng, phải cháy ngọn lửa, mới gọi là sống ở đời ! Hay là hình ảnh người mẹ ngồi nhặt lá vàng trong Chiều muộn: Nắng xế vườn thưa vàng lá đổ / Mẹ ngồi gom bóng chiều rơi.; rồi hình ảnh người chị thân thương như là biểu tượng của sự lam lũ, đức hy sinh:

Một đời lầm lụi cuốc cày, nhặt cỏ

Hạt lép ngổn ngang, hạt chắc chưa đầy

Nước mắt khóc chồng, khóc con khô cạn

Thân yếu gầy là chị của tôi đây

(Chị tôi - Nến đồng)

Câu chuyện chung quanh bài thơ Con bò của Hồng Thế như một giai thoại văn học cảm động. Anh có con bò già không kéo cày được nữa, dù thương nó lắm, nhưng nhà thơ phải bán đi, để lấy tiền mua con bê sau này kéo cày tiếp. Anh bàn, vợ đồng ý, nhưng tính nông dân, nên Hồng Thế lại trăn trở mấy đêm ròng vì thương con bò gắn bó với mình nắng sương sớm tối hơn chục năm liền. Nhớ những đêm mưa rét phải thức dậy lấy liếp che chắn rét cho bò. Nhớ những tháng ngày cỏ khô đồng cháy, chủ phải đi vét những nắm rơm cuối cùng cho bò ăn. Con bò như một lao động trong hnà, nên xa nó không đành.

Nhưng rồi cũng phải bán cho lò mổ. Bán bò, mua con bê mới xong, số tiền còn lại dành dụm để in tập thơ đầu tay khi anh đã 42 tuổi! Mất con bò, anh buồn ngẩn ngơ mấy ngày như mất một người bạn: Đường cày đang dang dở / Chiếc ách cày còn đây / Làm sao không thương nhớ / Cái nết ăn, nết cày ! Khi tập thơ Lời mùa thu in xong, để tỏ lòng biết ơn con bò đã cho mình thơ, cho mình tiền để in thơ, Hồng Thế đã vào Đồng Hới tỉnh lỵ mở một cuộc "tiệc nghèo" mời bạn bè văn nghệ. Được mời anh em ai cũng phấn khích, tưởng rằng, dạo này Hồng Thế đã khá giả rồi. Khi mọi người có mặt đông đủ, anh mở cái bị cói "nhà quê" của mình ra giới thiệu với bạn bè "con bò" dành cho buổi liên hoan. Thì ra Hồng Thế mua ở lò mổ đủ các bộ phận của một con bò, mỗi thứ một ít để đỡ "nhớ bò", để thết bạn và mừng thơ! Ấy là chất "thi sĩ" rất đồng quê mộc mạc mà thân tình của Hồng Thế! Mọi người nâng chén với Hồng Thế, nghe kể chuyện bán bò in thơ ai cũng ứa nước mắt...

Từ Lời mùa thu đến Nến đồng, thơ Hồng Thế đã có sự chuyển biến quan trọng về chất. Nếu ở tập thơ trước, Hồng Thế thiên về bày tỏ cảm xúc, thì đến Nến đồng, thơ anh đã nghiêng hơn về chiêm nghiệm, suy tư! Điều đó không phải do Hồng Thế học hành, ”tập huấn” gì, vì anh làm ruộng, lấy đâu ra thời gian mà học. Theo tôi, có lẽ cái chất "suy tư, triết lý" ấy bắt nguồn từ sự ham đọc sách, từ bản lĩnh sống, bản lĩnh thơ Hồng Thế khi anh đã vào tuổi "tri thiên mệnh": Cuộc đời trao tôi cây nến nhỏ / Tôi được sống khi cháy thành ngọn lửa !; hay Lá trầu khô héo trên cơi / Ruột cau quặn thắt một đời còn thơm... Cái mới nữa trong thơ Hồng Thế là anh đã được đi nhiều nơi hơn, nên mở rộng đề tài thơ hơn. Trong tập Nến đồng có những bài thơ (như Viết ở Vị Xuyên, Phố Cổ Hội An, Qua cầu Bóng...) viết trong các chuyến đi do Hội Nông dân Việt nam mời hoặc được đi dự trại sáng tác do Hội Văn nghệ tỉnh tổ chức. Tôi đọc những bài thơ này, mới hay Hồng Thế cũng cảm xúc rất tinh tế về những nơi mình mới đến. Viết tặng người bạn nhạc sĩ Huy Tập trong chuyến đi Nam Định, Hồng Thế có những câu thơ rất thi sĩ :

Ai về bên kia sông Vị

Lòng chùng mấy nhịp cầu treo

Tơ trời kéo giăng sợi nhớ

Đong đưa nhịp võng sang chiều

(Gửi lại - Nến đồng)

Tôi đã ngủ qua đêm trong ngôi nhà tranh nghèo của Hồng Thế ở làng Lộc Mỹ. Từ bao nhiêu năm nay vẫn ngôi nhà gỗ lợp ngói ấy, sân gạch, giếng nước, mấy bụi cam chanh. Những đứa con thì anh gọi tên là thằng Chạc, thằng Dợ... (Thằng Dợ xuống đun nước / Thằng Chạc hát nghêu ngao / Bà xã về dựng cuốc / Mắt cười thay tiếng chào (Mai Văn Hoan). Thằng Chạc, thằng Dợ bây giờ đã có con, nghĩa là Hồng Thế đã có cháu nội, nhưng anh vẫn ham sách, ham thơ lắm. Tôi thấy chất đầu giường ngủ, đầy tủ gỗ, đầy cả trên tra (gác) đầy ắp là sách với sách, những Tagor, Exênhin, Puskin, Uýt Man, Gớt, Nam Cao, Nguyễn Bính, Hoài Thanh, Xuân Diệu... và sách bạn bè tặng. Anh kể rằng, đi cày về uống bát nước chè xanh là đốt đèn dầu (mấy năm nay đã có điện lưới quốc gia, nhưng muốn làm thơ khuya thì phải thắp đèn dầu, vì không đủ tiền để trả tiền điện!) đọc sách đến khi vợ con gọi cơm tối. Ăn xong lại đọc tiếp, đọc tới khuya, hứng lên có khi thức làm thơ tới sáng. Không biết thơ là cái giống gì mà đến anh nông dân như Hồng Thế cũng phải khốn khổ, trở trăn với nó đến bạc tóc như vậy ? Có lẽ nhờ sách mà Hồng Thế tiếp cận được với thơ hiện đại, chứ làm ruộng như anh thời gian đầu mà trường với lớp ! Làng quê Hồng Thế cách thị xã Đồng Hới gần hai chục cây số, thế mà anh chẳng bỏ cuộc sinh hoạt thơ nào về ban đêm ở tỉnh lỵ cả. Ngày thơ Việt Nam năm nay, anh từ làng đạp xe vô Đồng Hới đọc thơ, rồi lại đạp ra. Vài hôm sau, lại đạp xe vô Đồng Hới để đọc thơ chào mừng Lễ hội Di sản Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng. Đọc thơ, uống rượu với bạn bè đến sáng, anh lại đạp xe ra với cánh đồng làng tháng giêng...

Có lần, Hồng Thế được Hội Nông dân Việt Nam mời đi họp ở Đà Nẵng, trên đường ra, anh ghé Huế chơi. Tôi hỏi: Còn làm thơ nữa không? Anh cười nâng chén: "Chỉ có thơ nó bỏ mình chứ mình có bỏ thơ bao giờ". Rồi anh khoe "Giờ mình là hội viên hai hội quan trọng nhất: Hội thực và Hội đạo. Thực là gạo, đạo là thơ. Ha...ha...ha !" Ôi, Hồng Thế ! Khi tôi bảo anh tự nhận xét về thơ mình, anh cười: “Cái được và chưa được trong thơ, đối với mình, tất cả đều dành cho hạt lúa mẩy trên đồng!”.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác