Hồ Dzếnh, thêm những đoạn đời tôi biết…

Mai Ngọc Thanh

Hồ Dzếnh tên theo tiếng Việt là Hà Triệu Anh. Bút danh Hồ Dzếnh xuất xứ từ phiên âm hai tiếng “Hà Anh” theo phương ngữ tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc, tiếng của quê bố. Quê mẹ ở Ngọc Giáp (tiếng Nôm là Ghép) nay là xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương. Nhưng ông được sinh ra tại làng Đông Bích, xã Hoà Trường cũng thuộc huyện Quảng Xương.

Hồ Dzếnh, thêm những đoạn đời tôi biết… - ảnh 1
Thi sĩ Hồ Dzếnh
Năm 1943 tôi đang học ở Trường tiểu học Đông Sơn Sud (phía Nam) của thành phố Thanh Hoá. Một buổi sáng vừa vào lớp thì thầy Thọ nói: “Thầy báo với các con hôm nay văn sĩ Hồ Dzếnh, cha người Trung Hoa, mẹ người Việt Nam và có thi sĩ Xuân Diệu đi cùng, tới trường ta giới thiệu với các con văn phẩm “Chân trời cũ” nổi tiếng của ông. Con nào thích thì mua, theo ý thầy là nên mua, có thể bây giờ các con đọc chưa thu nhận hết cái hay, nhưng vài ba năm nữa, sẽ hiểu trọn vẹn và rất thích đấy”.

Chúng tôi khoanh tay đặt lên bàn và hồi hộp chờ đợi. Thầy Thọ bước ra cửa đợi đón khách. Lát sau hai vị khách từ lớp bên đi sang. Một người cao, mảnh dẻ, khuôn mặt đẹp đi trước, vai đeo chiếc túi dết căng  phồng, tay phải cầm mấy cuốn sách. Chúng tôi đoán chắc là ông Hồ Dzếnh. Đi liền phía sau là người thấp hơn, mập mà, rất đẹp, tóc xoăn, mang kính cận dầy cộp, chúng tôi đoán là ông Xuân Diệu.

Chỉ một mình ông Hồ Dzếnh nói. Ông giơ cao cuốn Chân trời cũ cho chúng tôi nhìn rõ và nói, nói ngắn thôi, nhỏ nhẹ: “Tôi là thi sĩ Hồ Dzếnh, cha tôi người Quảng Đông bên Trung Hoa. Nhưng cho tới nay, tôi chưa hề được đặt chân đến quê nội của mình. Mẹ tôi là người Việt Nam, ở Ghép, thuộc huyện Quảng Xương của tỉnh ta. Tôi gắn bó thân thiết với quê mẹ, vậy tôi cũng là một người Việt Nam. Cuốn sách này tôi viết về thời thơ ấu buồn trong tình thương vô bờ của mẹ tôi, người mẹ buồn và nghèo lắm”. Trong lúc ông nói thì ông Xuân Diệu đứng kề bên chỉ im lặng, thỉnh thoảng lại lúc lắc cái đầu và hấp háy cặp mắt tinh anh nhìn góc này, góc kia của lớp chúng tôi.

Cuối cùng, ông Hồ Dzếnh quay lại phía thầy Thọ: “Xin phép thầy cho tôi được hỏi cháu nào ưng mua thì tỏ ý bằng giơ tay. Tôi sẽ xin được gửi số sách lại ở thầy, buổi học chiều hoặc sáng mai các cháu mang tiền, thì thầy nhận dùm, để lấy sách. Tôi xin đa tạ”.

Ngay chiều đó tôi đã mua một cuốn với thích thú rất trẻ con bởi bà mẹ của ông là người làng tôi, nơi có bến đò Ghép…

Từ bấy… mãi tới đầu tháng 12 năm 1988 tức là bốn mươi lăm năm sau, nhân có chuyến công tác ra Hà Nội, tôi tới thăm nhà thơ Lữ Giang người đồng hương, lúc anh đang sửa soạn sang chơi với nhà Hồ Dzếnh, anh rủ tôi đi luôn. Thấy là một dịp hiếm có, tôi “vâng” ngay.

Từ nhà anh Lữ Giang ở 175 Bà Triệu sang nhà ông Hồ Dzếnh ở số 3 Hoà Mã rất gần. Anh Lữ Giang giới thiệu với ông: “Anh Mai Ngọc Thanh vừa từ Thanh Hoá ra công tác, tôi đưa anh sang thăm ông, cũng là người đồng hương với ông đó”. Ông tỏ ra rất vui. Trong cuộc trò chuyện thân tình, tôi kể lại với ông cái lần “Chân trời cũ” năm xưa. Nghe xong, ông nở một nụ cười nhẹ, thật thương: “Cám ơn anh vẫn nhớ đến tôi ngày ấy”. Và do có cuộc gặp này, tôi mới hiểu vì sao nhà thơ Xuân Diệu lại có mặt cùng ông trong chuyến tới trường Đông Sơn Sud năm 1943: Nhà văn (và cũng là nhà thơ) Hồ Dzếnh sau chuyến vào Sài Gòn, lúc trở ra dừng lại Quy Nhơn chơi thăm nhà thơ Xuân Diệu, rồi hai người cùng lên tàu ra Bắc với nhau… Qua lời tự giới thiệu, ông biết quê tôi ở Ghép, ngay bên bờ sông Ghép, nên ông hỏi tôi nhiều điều, dĩ nhiên không quên hỏi về cái bến đò Ghép mà ngày xưa mẹ ông từng là “cô lái đò” ở đây. Ông thổ lộ rất muốn về thăm lại Ghép và làng Đông Bích một lần. “Nhưng phải chờ hết mùa đông mới đi được vì tôi đã yếu lắm”. Tôi hẹn với ông khi nào về thì báo trước cho tôi và anh Hà Triệu Xương cháu gọi ông là chú ruột đang sống tại thành phố Thanh Hoá, để chúng tôi cùng “tháp tùng” ông trở lại vùng đất gắn với cuộc đời ông những ngày ấu thơ. Và ông đã về như ước nguyện. Nhưng tiếc rằng trước đó hơn một tuần lễ, tôi đã phải vào thành phố Hồ Chí Minh công tác. Nên cuộc trở về Chân trời cũ, về Quê ngoại ấy, chỉ có ông và anh Xương. Ông thăm được cả công trình thuỷ nông Sông Lý xây dựng sau ngày thống nhất đất nước nhằm tiêu úng cho vùng Tây Nam Quảng Xương mà cống thoát nước ra biển đặt tại Ghép. Ông có viết được bài thơ “Sông Lý quê em” mà tạp chí Văn nghệ Thanh Hoá đã đăng. Chỉ hai năm sau cuộc trở về ấy, Hồ Dzếnh đã qua đời, năm 1991, tháng 8.

Hồ Dzếnh tên theo tiếng Việt là Hà Triệu Anh. Bút danh Hồ Dzếnh xuất xứ từ phiên âm hai tiếng “Hà Anh” theo phương ngữ tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc, tiếng của quê bố. Quê mẹ ở Ngọc Giáp (tiếng Nôm là Ghép) nay là xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương. Nhưng ông được sinh ra tại làng Đông Bích, xã Hoà Trường cũng thuộc huyện Quảng Xương.

*

Những năm cuối thế kỷ 19, có một người trai tên là Hà Kiến Quân từ tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc di cư sang Việt Nam, rồi vào Thanh Hoá làm nghề buôn bán gỗ lim đen, đặc biệt là giống lim xanh. Người Hoa kiều Hà Kiến Quân luôn luôn qua lại trên chặng đường thành phố Thanh Hoá - Như Xuân, mà giữa chặng đường đó có một bến đò gọi là bến đò Ghép. Qua đò này thì sang đất huyện Tĩnh Gia, rồi đi lên Như Xuân, là thuận tiện nhất so với các ngả đường khác thời bấy giờ. Cô lái đò bến Ghép ngày ấy là Đặng Thị Văn. Vốn trước đó làm nghề sản xuất muối ở cánh đồng muối sát kề bến Ghép, sau đó bỏ nghề muối rồi thuê con đò của làng làm cho đỡ vất vả. Vì thế, cô lái đò ấy đã gặp và quen biết người khách đi đò Hà Kiến Quân. Từ quen biết dẫn đến tình yêu. Sau ngày thành vợ thành chồng, cô trả đò cho làng để theo chồng lên sinh sống ở Cán Khê, Như Xuân.

Rồi không rõ vì sao sau này họ lại đưa nhau về xuôi. Nhưng không trở lại Ngọc Giáp mà tới ngụ cư ở làng Đông Bích, một làng bên hữu ngạn sông Ghép, cách bến đò xưa chừng hơn ba kilômét theo đường chim bay.

Thế mà chẳng ngờ cái tổ ấm gia đình này bỗng một ngày tan vỡ. Nguyên là ông Hà Kiến Quân đã dan díu với một người con gái có nhan sắc ở làng này, tên là Lan. Rồi hai người đem nhau một mạch dong vào tận Sài Gòn làm ăn. Bỏ lại ở làng Đông Bích bốn mẹ con bà Văn với nhiều bề gian khó và túng bấn.

Bà Văn không chết chồng mà thành goá bụa. May là có người con dâu đầu tốt nết, đã cùng bà xoay xoả làm nghề hàng xáo (1) để nuôi cả nhà.

Hà Triệu Anh đến tuổi đi học. Học trường Tiểu học Xuân Mộc cách nhà gần ba kilômét. Bà Văn ngày ngày gánh gạo lên chợ Hội bán, chợ rất gần trường. Nhờ thế, khi chợ tan cũng là lúc học trò ra chơi, bà lại qua cổng trường dúi cho con trai chiếc bánh xèo hoặc chiếc bánh lá để có sức mà học hết buổi chiều mỗi ngày. Muốn cho mẹ vợi đi phần nhọc nhằn kiếm sống. hết bậc Tiểu học, Hà Triệu Anh giấu mẹ, một mình ra thành phố Thanh Hoá với hy vọng tìm được việc làm nào đó cho một nhà buôn Hoa Kiều để có chút tiền học lên bậc Thành chung. Chỉ được hai niên khoá thì mất việc làm, Hà Triệu Anh lại đánh bạo tìm ra Hà Nội với hy vọng như thế, để học nốt hai năm nữa của bậc Thành chung. Và ông đã vượt qua khó khăn về miếng cơm manh áo để hoàn thành việc học như tâm nguyện.

Và từ lúc này, Hà Triệu Anh bước vào con đường viết văn làm thơ bằng thu nhập của nghề gia sư và thư kí cho hiệu buôn Hoa Kiều. Các truyện ngắn và thơ xuất hiện với bút danh Hồ Dzếnh trên các báo chí Hà Nội, khiến người đọc chú ý ngay từ buổi đầu.

Suốt cả cuộc đời 75 năm, Hà Triệu Anh - Hồ Dzếnh không hề biết quê cha mình ở huyện nào, thôn trang nào bên tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc, không xa Việt Nam quê mẹ bao nhiêu. Những năm tháng sống và viết và làm thuê ở Hà Nội, nhưng đồng lương còm nên cũng chả giúp mẹ được nhiều nhặn chi. Lúc này người anh cả là Hà Triệu Ngọc cùng vợ liều mình ra thành phố Thanh Hoá thuê một căn nhà nhỏ ở cái phố nghèo - phố Hàng Than, mở hiệu giặt là (bàn là đốt bằng than) để kiếm sống và đưa cả mẹ ra sống cùng.

Nỗi buồn không một lần được đặt chân tới quê cha, nỗi buồn gia cảnh theo bám dai dẳng trong ký ức và tâm cảm Hồ Dzếnh, xui khiến ông cầm bút. Cuộc sống gia đình với hình ảnh người mẹ bất hạnh, hai anh và người chị dâu cả nhân hậu, bóng dáng làng quê Ngọc Giáp, Đông Bích là nguồn cảm xúc khôn nguôi làm nên Chân trời cũQuê ngoại. Một tập văn và một tập thơ ra đời năm 1942 và 1943. Nhưng chắc rằng mãi mãi sống trong lòng người đọc qua các thế hệ.

*

Năm 1946 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam lần nữa, Hồ Dzếnh giã từ Hà Nội quay về quê hương Thanh Hoá. Cùng với rất nhiều văn nghệ sĩ có tên tuổi từ Hà Nội, khu Ba vào, từ Bình Trị Thiên khu Bốn ra, hoạt động trong Hội văn hoá cứu quốc Liên khu Bốn, tiếp tục sáng tác, phục vụ cuộc kháng chiến.

Thời kỳ này, Hồ Dzếnh có tiểu thuyết Cô gái Bình Xuyên và tập thơ Hoa xuân đất Việt (1946) và vở kịch Người nữ cứu thương Trung Hoa công diễn tại thị trấn Cầu Bố - Quán Mật (1947).

Tại Thanh Hoá, mãi tới lúc ngoài ba mươi tuổi, ông mới gặp và yêu một người phụ nữ tên là Nguyễn Thị Chắt, có biệt danh Huyền Nhân trong hoạt động cách mạng và kháng chiến, là cháu nộ một ông quan của triều đình nhà Nguyễn thời vua Bảo Đại. Rồi hai người lấy nhau và sinh ra người con trai. Nguồn thu nhập chủ yếu của ông những ngày này vẫn là những khoản thù lao nhỏ nhoi của việc dạy học theo giờ. Do có danh tiếng, nên một số trường của các huyện Nông Cống, Đông Sơn, Quảng Xương mời ông dạy những giờ văn ở bậc Phổ thông trung học.

Nhưng rồi ai mà ngờ được nỗi buồn đau đã đổ ập xuống số phận nhà văn tài hoa và hiền hậu này, khi đứa con chưa đầy một tuổi. Vợ ông đã bị bệnh dịch tả cướp đi vào một ngày đầu mùa hè năm 1950. Ngày ấy chưa có kháng sinh trừ bệnh này.

Người mẹ suốt một đời đau khổ của ông đã già lắm rồi, vợ chồng người anh thì đã một đàn con quá đông, chẳng ai có thể ghé vai gánh đỡ sự khó khăn. Một mình ông với đứa con bé bỏng trước một hoàn cảnh hoàn toàn bế tắc. Ông nghĩ tới một vài người bạn chí thân từ những năm đi học, làm việc và sáng tác trong Hà Nội, họ có thể chung tay chăm sóc cho đứa con ông. Nhưng Hà Nội đang là nơi bị giặc Pháp chiếm đóng. Ông tỏ bày nguyện vọng với Thiếu tướng Nguyễn Sơn, Tư lệnh Liên khu Bốn lúc này đóng bản doanh tại Cồn Kênh huyện Thọ Xuân của Thanh Hoá và ông Hoàng Đạo, Trưởng ty an ninh (Công an) Thanh Hoá (2).

Hoàn toàn tin ở lòng trung thực, yêu nước của Hồ Dzếnh và cảm thông với cảnh ngộ éo le của ông mà hai vị lãnh đạo đã ký giấy cho phép ông mang con vào Hà Nội còn bị Pháp chiếm đóng. Một sự cho phép táo bạo, đầy lòng nhân ái vào thời điểm ấy.

Hà Nội, điểm đến của chặng hành trình cõng con đi bộ này có hứa hẹn tốt lành gì không. Ông không dám hình dung cụ thể thế nào. Lầm lũi đi, nhọc nhằn và nhiều gian hiểm rình rập. Nhưng phải đi, đi để cứu lấy một sinh linh bé bỏng là máu thịt của mình…

Sung sướng và giật mình nhớ lại hành trình vừa đi qua. Nơi tới trước là nhà của vợ chồng người bạn thâm giao. Nhưng người bạn đã qua đời mấy năm trước. Bà Hồng Nhật, vợ người bạn đón tiếp hai bố con ông với sự hồ hởi, tình cảm thắm thiết vẫn như ngày nào và còn cả biểu hiện khác thường, hơn thế nữa…

Số phận đã không nỡ bạc bẽo, tàn nhẫn mãi với Hồ Dzếnh nên đã giành người phụ nữ có tên Hồng Nhật (Mặt trời đỏ) để sưởi ấm cho cuộc đời nhiều giá buốt của một nhà thơ tài hoa nhưng nhiều bất hạnh này chăng? Và cu Chính- Hà Triệu Chính từ đây trở thành đứa con như chính bà đã sinh ra.

Giữa Hà Nội những năm tháng ấy, ông khép mình trong phạm vi gia đình. Từ chối mọi mời mọc, cám dỗ mà ông cho là có hại cho kháng chiến, cách mạng. Ông sống thanh bần bằng đồng lương của người thợ cơ khí. Vâng, đúng như thế, nhà văn Hồ Dzếnh với hai tác phẩm để đời Chân trời cũQuê ngoại, từng có những năm làm thợ cơ khí ở nhà máy xe lửa Gia Lâm.

Rồi cuộc kháng chiến chống Pháp đã thành công. Vở kịch Đi hay ở của ông đã được công diễn tại Hà Nội. Và năm 1957, Hồ Dzếnh là một thành viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam.

Ông đã được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.

3/2009

(Tạp chí Thơ)


---------

(1) Mua thóc về xay giã, kiếm lãi bằng cách bán gạo và thu các sản phẩm phụ là tấm, cám và trấu.

(2) Ông Hoàng Đạo là một thành viên trong nhóm Kim Sơn, Chu Duy Kính và Nguyễn Thị Lợi tổ chức đánh đắm tàu chiến Amiôđanhvin của quân Pháp trên biển Sầm Sơn tháng 9 năm 1950.

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác