Đừng thoát khỏi cái hồn dân tộc

(Toquoc)- “Sáng tác là gì? Tôi không biết. Loài người có nhu cầu tự biểu hiện mình. Vẽ tranh, soạn nhạc hay làm thơ cũng là để tự biểu hiện mình... Là người cầm bút phải luôn biết tìm tòi, sáng tạo, nhưng không nên thoát khỏi cái hồn dân tộc”

Thi sĩ Hoàng Cầm đã tâm sự như vậy về nghề viết. Đó cũng là lời nhắn nhủ của ông đối với những cây viết trẻ.

Vào một ngày cuối tháng 5 lịch sử, báo điện tử Tổ quốc đã có cơ hội trò chuyện với thi sĩ Hoàng Cầm về những kỷ niệm liên quan đến bài thơ “Bên kia sông Đuống” và quê hương quan họ của ông.

Đừng thoát khỏi cái hồn dân tộc - ảnh 1

Hoàng Cầm: "Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ"
(ảnh Nguyễn Duy 2005)



PV: Theo nhà thơ, điều gì khiến bài thơ sống mãi với thời gian?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Tôi cho là cái gì thực tâm thường sống được lâu. Bài đó xuất phát từ xúc cảm rất thật của tôi. Hôm đó, tôi được tin giặc nó chiếm quê tôi, không biết vợ con mình ra làm sao, bố mẹ, nhà cửa thế nào. Tôi lo lắm. Lòng cứ thấy nôn nao, đêm không thể ngủ được. Và tôi đã viết, như để thoả nỗi lòng mình.

Đó là tôi rút kinh nghiệm thôi, chứ bài sông Đuống đó, tôi thấy còn có nhược điểm: nó dài, khó thuộc. Thế nhưng tại sao người ta vẫn thuộc? Thực ra người ta không thuộc cả bài, chỉ thuộc từng đoạn thôi, đoạn nào mà người ta thích nhất.

PV: Ông có thể kể một vài kỷ niệm về nơi sinh của ông?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Kỷ niệm thuở thơ ấu cũng rất nhiều. Nhớ nhất là ngày ấy, nhà tôi nghèo, bố là nhà Nho, không có nhà ở, toàn đi ở nhờ. Nhiều khi bố mẹ phải bế con sang bên kia sông ở nhờ. Vì cái ở nhờ đó, từ thuở bé, tôi đã thấy rất khổ.

Ở Thuận Thành quê tôi, có một khu rừng. Nói là rừng nhưng cũng không to lắm đâu, chỉ rộng khoảng 30m, dài khoảng 1km. Vào bên trong thì thấy là rừng thật, cây cao lắm, to và rậm rạp. Giữa rừng có một cái bệ thờ, thờ vua Kinh Dương Vương. Trên bệ thờ chỉ có một cái bát hương, rêu phong phủ đầy xung quanh, không có tượng thờ. Có một điều lạ thế này. Từ đúng giữa cái bàn thờ đó ngửng đầu lên, đúng trên ngọn cây, không biết thế nào mà lá cây lại rẽ ra thành một cái lỗ tròn to, bằng cái nong. Nếu vào giữa trưa thì mặt trời soi thẳng xuống bàn thờ. Đứng từ xa thấy bàn thờ sáng rực lên, rất lạ. Hồi nhỏ, tôi cũng hay thắc mắc với các cụ: “Chắc các cụ lên các cụ lấy kéo lấy dao phạt đi”. Các cụ bảo “Láo, sinh ra như thế là tự nhiên, thiêng liêng”. Mà đúng thế, cây cao như thế làm sao mà trèo lên cây mà cắt tỉa lá cho trúng như thế được chứ? Nhưng cũng lạ, cứ đến chỗ ấy là cành không đâm ra nữa.

Thuở bé, tôi cũng hay ra tắm ở sông Đuống. Từ bé đến giờ tôi vẫn không biết bơi nhưng cứ thích tắm sông. Toàn bị bọn trẻ con ở đấy trêu. Nhưng thực ra, tôi ra sông cho nó mát, ngắm cảnh, thư giãn một chút thôi, chứ không phải là tắm thật. Về nhà lại dội nước giếng.

Hồi nhỏ, tôi được cái đẹp giai lắm, đến các thầy giáo cũng thích. Đẹp giai nên cũng có nhiều người yêu, nhất là các cô giáo ở làng, cô giáo ở phố huyện, một vài cô hàng xóm... Hồi tôi cũng 15-16 tuổi, có một cô quyến luyến mình nên hay rủ đi chơi bằng thuyền. Chúng tôi thuê thuyền trên sông Đuống, xuôi xuống tận Phả Lại, chỗ Lục Đầu Giang. Chỗ ấy mênh mông lắm, trông như biển. Chúng tôi mua cái gì đó cùng ăn. Kỷ niệm trong sáng thế thôi.

PV: Lần gần đây nhất ông trở lại, con sông quê có còn như xưa?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Con sông thì vẫn như trước. Có điều giờ không còn cái phà, người ta đã làm cầu, được gọi là cầu Hồ. Tôi thấy mừng cho dân ở đây. Vì ngày xưa dùng phà mất thời giờ lắm. Nhất là ngày trước, khi quan phủ mà qua phà thì dân không được đi. Một chuyến phà phải mất 45 phút, mà dịp nước to vào tháng 7 âm lịch thì đi còn lâu hơn. Giờ, thỉnh thoảng về quê, có cái cầu đi cũng yên tâm hơn.

PV: Ông có hay trở lại cái điểm “bên kia” không và có định viết một “sông Đuống” nữa?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Từ quê tôi lên Việt Bắc gần lắm. Còn “Bên kia sông Đuống” thì chỉ có một thôi. Bài đó nó ôm hết rồi, mọi tình cảm trong đó, nó bao quát hết rồi. Tôi không có ý định viết cái gì nữa. Có một số ông giáo sư nói vui với tôi: “Ông chỉ cần một cái bài sông Đuống đó là bất tử rồi”. Chẳng biết họ bốc mình lên hay thế nào.

PV: “Bên kia sông Đuống” đã được phổ nhạc, nhà thơ có muốn nó được dựng thành phim?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Ai làm được cái phim về sông Đuống thì rất hay. Đó là cả một vùng quê trù phú, lại tích cực tham gia đánh giặc. Bài thơ đó đem dựng thành phim thì hay đấy.

Cả đoạn đầu cho đến giữa là tôi tâm đắc nhất. Đó là đoạn tôi hoài niệm về quê. Đó là niềm nhớ tiếc, hoài vọng. Cái hồn của bài thơ, cái hồn của dân tộc ở trong đó.

PV: Cảm xúc của ông khi bài thơ được in lần đầu tiên?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Khi thấy trên tờ Cứu quốc có đăng toàn bộ bài đó, tôi thấy xúc động lạ lùng, dù được đăng báo, in sách nhiều quen rồi. Tôi làm bài đó lúc nhớ quê hương, bố mẹ, anh em, trong lúc gian khổ nhất. Giờ được đăng, tôi thấy sung sướng, xúc động vô cùng. Hồi đó, trên báo, chữ có được như bây giờ đâu, chữ thì mờ, chữ thì mẻ, sứt. Nhưng quý lắm. Cảm thấy dân tộc mình vĩ đại. Cảm thấy rõ. Có vĩ đại thế mới truyền cho mình cái hơi thơ đó.

PV: Quan điểm sáng tác của ông là gì?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Sáng tác là gì? Tôi không biết. Loài người có nhu cầu tự biểu hiện mình. Vẽ cũng là một cách tự biểu hiện mình, làm một bản nhạc, làm bài thơ, viết tiểu thuyết cũng là để tự biểu hiện mình. Bài Bên kia sông Đuống chẳng hạn, hôm đó, viết xong thì trong lòng mới thấy yên yên.

PV: Ông thấy thơ trẻ bây giờ thế nào?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Bây giờ, anh em có học hơn, đọc nhiều, tài liệu nhiều. Tôi thấy anh em đang cố thoát những giọng điệu cũ. Giờ thơ lục bát, thất ngôn hiếm lắm. Anh em thích làm thơ tự do. Tự do thì dễ biểu hiện cảm xúc của mình. Người làm thơ nhiều, in cũng nhiều, nói về số đông thì có sự tìm tòi cái mới. Nhưng để tìm ra một người làm thơ, hoặc một vài bài bắt mình phải suy nghĩ thì hầu như chưa có.

PV: Theo ông, nên tiếp cận cái mới như thế nào?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Cái mới cần lắm. Nên đọc, càng đọc kỹ, đọc nhiều càng tốt. Đọc cả ở nước ngoài và trong nước, từ cổ điển đến hiện đại. Thời tôi còn trẻ đọc nhiều lắm, chịu khó đọc lắm. Ông Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan ham đọc lắm. Ngay ông Nguyên Hồng nhà nghèo nhưng cũng đi mượn sách về đọc. Có đọc như thế mới mở mang được trí tuệ, viết mới hay được, mới gây được xúc cảm. Nhưng không phải là đọc tùm lum, mà nên có chọn lọc. Cứ tìm cái mới lạ, nhưng không nên thoát khỏi cái hồn dân tộc.

PV: Ông có lời khuyên gì với lớp nhà văn trẻ?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Thế giới cũng như chúng ta, cũng có những tình cảm yêu thương, giận ghét như nhau thôi. Chỉ có cách biểu hiện khác. Người làm thơ thực sự thì cái hồn thơ, cái rung động thơ phải là của riêng mình. Người viết phải luôn gắn bó với nhân dân và luôn luôn tìm cách sáng tạo, đừng có đi những bước người ta đã đi rồi. Tôi tin là anh em trẻ sẽ viết được khá. Mong anh em luôn gắn bó với thời sự, với nhân dân. Đừng có lúc nào rời ra.

PV: Theo ông, Hội Nhà văn Việt Nam nên làm gì để tạo điều kiện sáng tạo hơn nữa cho các nhà văn?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Hội Nhà văn Việt Nam nên tổ chức ra từng nhóm nhỏ, độ 7-8 người. Những người này kết thành bạn thân, trao đổi sách với nhau, không chỉ sách mình viết mà cả những cuốn sách mình đọc. Nhóm đó gồm những người hợp nhau, mới giúp đỡ nhau được. Hội tổ chức đi thực tế sáng tác cũng tốt, nhưng nếu chia các hội viên ra từng nhóm nhỏ tập trung làm việc với nhau sẽ tốt hơn, phát huy trao đổi như thế sẽ hiệu quả hơn cho nghề viết.

PV: Ông có nhắn gửi với bạn đọc, những người yêu thơ ca Hoàng Cầm?

Thi sĩ Hoàng Cầm: Tôi muốn hỏi bạn đọc còn nhớ gì của tôi không? Người làm thơ cần cái đó lắm, cần bạn đọc nhớ mình. Quan trọng là nhà thơ nói hộ người ta được cái gì. Làm thơ trước tiên là cho mình, nhưng sau đó thì cũng phải cho ít nhất là cho một người nữa.


Vâng, gần 60 năm kể từ khi ra đời “Bên kia sông Đuống” (1948), người đọc đến nay vẫn ám ảnh bởi hình ảnh một “sông Đuống nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”. Có lẽ là bởi vì ông đã “nói hộ” được lòng của không ít người con xa quê. Hơn thế, còn bởi vì cái hồn dân tộc nằm ở đó, đẹp trong sóng mắt sông Đuống, trong mây ráng Thiên Thai, sâu lắng trong những tên làng, tên hội của một vùng quê thuần phác, nguyên sơ đẹp lạ lùng trong "một dòng lấp lánh" cứ nghiêng nghiêng chảy. Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhà phê bình Đặng Tiến gọi thơ Hoàng Cầm là "cuộc hôn phối hạnh phúc giữa tính dân tộc và tính hiện đại " với vẻ đẹp "truyền thống lung linh trong ngôn ngữ thơ mới, trẻ trung và hiện đại”. Cả đời mình, Hoàng Cầm luôn tìm tòi để có những câu thơ bừng sáng mỹ cảm trong sự giản dị hồn quê. Chính vì thế mà cái bóng Hoàng Cầm sẽ mãi “nghiêng nghiêng” trong suốt con đường thơ ca của dân tộc.


BẠCH DƯƠNG
(thực hiện)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác