Dòng nhạc dân gian giữa đời thường

Đồng Đức Bốn (1948 - 2006) quê ở Hải Phòng. Ông từng là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn học Hải Phòng. Ở cái tuổi ngoại tứ tuần mới tìm đến với nàng thơ, nhưng thi nhân đã gặt hái không ít những quả chín của nghệ thuật.

Những giải thưởng thơ trên các báo Văn nghệ, Văn nghệ quân đội… người ta thấy xuất hiện cái tên Đồng Đức Bốn. Thơ lục bát của ông như một “dòng nhạc dân gian” đánh sâu vào tận đáy tâm hồn ta. Một tiếng sáo diều, một chút đầy vơi giữa cái náo nhiệt cuộn chảy của xã hội hiện đại…

Thơ là cuộc đời. Thơ ca vốn từ xưa đến nay vẫn luôn luôn là sự phản ánh hiện thực, một hiện thực được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. Song nếu ai đó cứ cố gắng đi tìm một hiện thực trần trụi trong thơ Đồng Đức Bốn thì sẽ sớm thất vọng. Thơ Đồng Đức Bốn không phản ánh hiện thực trực tiếp mà phản ánh hiện thực tâm trạng. Nhà thơ không đi vào sự ồn ào mà đi vào những cái trăm năm, ngàn năm của làng quê muôn thuở. Đó không phải là cái của ca dao đã nói, của Nguyễn Bính đã nói mà hình như chưa ai nói. Ấy là nỗi khắc khoải về sự vô vị nhạt nhẽo của những vùng quê trước sự đô thị hoá.

Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn không có những cách tân lên dòng, xuống dòng để tạo ấn tượng thị giác, cũng không có lối chơi chữ đầy tinh quái của ca dao. Lục bát Đồng Đức Bốn được viết “nhẩn nha” (chứ không hẳn là từ tốn), thi nhân như đang nói, trò chuyện và toàn là những chuyện “không đâu”. Nhưng đó là cái “không đâu” trong nghệ thuật, nó có sức gợi riêng, có không gian thẩm mỹ riêng.

Quê hương trong thơ Đồng Đức Bốn là một làng quê buồn tẻ. Nơi ấy bên cạnh những dư vị đồng cỏ thì cuộc sống dường như cũng tĩnh lặng, con người mải mê chìm đắm trong sự chờ đợi, trong vòng bế tắc và lạc hậu đến ghê người: “Ông lão ngày nay đi bừa là con ông lão ngày xưa đi cày”. Từ đời cha đến đời con, qua bao thế hệ phương thức sản xuất không có gì thay đổi: ngày nay đi bừa - ngày xưa đi cày. Câu thơ tưởng như một lời nói bâng quơ, nhưng dội vào lòng người nỗi đau xót xa về một làng quê ngưng đọng, đói nghèo. Quê hương trong thơ Đồng Đức Bốn còn là một kí ức, kí ức về cha, về mẹ, hình ảnh người mẹ tần tảo sớm hôm cứ lặng lẽ ầm thầm suốt đời mình chỉ biết nhẫn nhịn hy sinh, chịu đựng: “Cầm lòng bán cái vàng đi. Để mua những cái nhiều khi không vàng”. Tiếng rao của mẹ qua bao năm tháng vẫn cứ vang mãi trong lòng đứa con như dao cứa, như những gì nhức nhối nhất “Lời rao chìm giữa gió sương. Con nghe vọng những thôi đường xót xa”.

Dư vị quê hương trong thơ Đồng Đức Bốn khiến người ta xót xa là vậy. Nghĩ về quê hương người ta thấy thương hơn là yêu. Vậy mà con người ta vẫn muốn được sống ở đó, khao khát trở về đó. Ý thức trở về quê hương bao giờ cũng thường trực và cháy bỏng, đó là sự trở về với mẹ, trở về như một sự trung thành, như bổn phận làm con không được dời cha mẹ, không được bỏ quê hương: “Trở về với mẹ ta thôi/ Giữa bao la một bầu trời đắng cay”. Đó là sự trở về với cội nguồn gốc rễ, là tình cảm có thật trong thơ Đồng Đức Bốn. Nó có thể khiến lòng người xót xa, giúp con người ý thức hơn về cuộc sống.

Tình yêu trong thơ Đồng Đức Bốn cũng vậy, nó không có cái nồng nàn, quên đời và quên sầu. Đó là một thứ tình yêu đầy đau đắng và khắc khoải, nhưng cứ khiến kẻ đang yêu kia dám liều mạng để yêu và được yêu “tình yêu là món nợ tôi thế chấp cả đời”:

                                                “Tôi đi tìm một tình yêu

                                    Trên dòng sông chứa rất nhiều ban mai”.

                                                “Cánh hoa sắc như lưỡi dao

                                          Vì yêu tôi cứ cầm vào như không”.

Một kiểu yêu lạ lùng, xót xa, đắm say, mãnh liệt nhưng không bao giờ chấp nhận sự hời hợt. Với thi nhân, mọi cung bậc trong tình yêu đều phải đi đến tận cùng, và một tình yêu đích thực thì chỉ qua chông gai, giông bão, được mài dũa giữa dòng đời mới có thể bền lâu: “Tình yêu ở trên đầm lầy. Khổ đau mới biết vơi đầy trong nhau”.

Tình yêu quê hương đất nước và tình yêu đôi lứa đã trở thành hai mạch nguồn chính chảy mãi trong thơ ông. Nó xuất phát từ một cách nói tự nhiên dường như là thiên bẩm, không lên gân, không đại ngôn, nhưng những điều tưởng như nhỏ nhoi, tầm thường, cũ kỹ ấy cứ lật đi lật lại và bắt người ta phải suy nghĩ.

Dẫu biết thơ lục bát “dễ làm nhưng khó hay”, mà Đồng Đức Bốn vẫn mạo hiểm chơi một ván bài đầy may rủi. Nhưng “bình thường là cái chết của nghệ thuật” (V.HuyGô), nó luôn muốn được khám phá và chấp nhận người chơi, kẻ chơi và kể cả sự liều mạng. Sẽ không có gì là đổi mới trong nghệ thuật nếu không có ai dám đi vào, đối mặt và khám phá nó. Đồng Đức Bốn đã nói tiếng nói của mình và đưa vào văn chương cái của mình, dòng nhạc dân gian ấy đã tạo nên một thế giới riêng trong thơ ông. Những câu thơ lục bát tưởng như cũ kỹ lại có thể chuyên chở được bao điều kỳ diệu mà những câu thơ tự do không làm được. Chính điều đó đã cho thấy sự kỳ công của thi nhân trong quá trình tự nguyện làm “phu chữ”.

Nghệ thuật trong thơ lục bát của Đồng Đức Bốn về cơ bản không có sự sáng tạo hay phá cách mang tính đột xuất, nó vẫn đi theo những khuôn thước của lục bát truyền thống ở cách thức gieo vần, vận âm luật… Dấu ấn của thi nhân trong lục bát chính là ở lối tư duy thơ độc đáo, ở cách liên tưởng và xây dựng biểu tượng. Trong thơ ông luôn có sự mở rộng biên độ trường liên tưởng giữa cái cụ thể với cụ thể, cụ thể và trừu tượng, giữa những cái đối lập,… Nó kích thích khả năng tư duy của độc giả nhưng cũng hé mở ra đồ thị tâm hồn của chính thi nhân. Bởi đau đắng trong cuộc đời, bởi luôn mang theo nỗi âu lo khắc khoải và luôn luôn muốn thể nghiệm mình mà cách lựa chọn hình ảnh, lựa chọn biểu tượng cũng đi theo chiều hướng đó. Trong thơ ông, chông gai, giông bão, cơn mưa, chuông chùa, dòng sông là năm biểu tượng chính trở đi trở lại, đồng thời là những ám ảnh khôn nguôi.

Chính những biểu tượng đó đã tạo nên “phần chìm” ở trong thơ Đồng Đức Bốn. Lục bát Đồng Đức Bốn từ tốn, chậm rãi, từ tốn như lời nói vẩn vơ của một người vừa ngán sự đời, vừa không thôi chiêm nghiệm sự đời. “Nhà thơ ở đây đồng nghĩa với một thứ nghệ nhân lăn lóc rạc rài. Một mẫu người du ca thường thấy trong đời sống văn hoá ở xã hội ngày xưa song có lẽ không bao giờ hết trong xã hội hiện đại” (Vương Trí Nhàn).

Làm thơ là một thứ lao động cực nhọc, để có được một chữ phải mất “cả tấn quặng ngôn từ” và nhà thơ phải “trả với giá cắt cổ”. Tất nhiên trong quá trình lao động ấy người nghệ sĩ sẽ không thoát khỏi những sai lầm, những vụng về. Bên cạnh những câu thơ hạng nhất, ta vẫn bắt gặp những câu thơ dễ dãi, loãng và thiếu sức gợi, lời nhiều hơn ý, đây đó trong thơ Đồng Đức Bốn đã có dấu hiệu của sự lặp lại. Đó là những hạt sạn trong thơ, nó không đủ sức để đánh đổ một tài năng, nhưng lại là vấn đề đặt ra đối với người cầm bút trên đường trở về phải tiếp tục làm mới cho thơ mình.

Cuộc đời luôn chảy trôi, không bao giờ chờ đợi một ai. Thơ là cuộc đời, dừng lại và bằng lòng với những gì hiện có nghĩa là thơ đã chết. Dấn thân vào cuộc đời, vào con đường chông gai của nghệ thuật, Đồng Đức Bốn đã tạo nên dấu ấn thơ cho riêng mình - thơ lục bát Đồng Đức Bốn. “Y bát” của “Ngộ năng” của “Môn phái” lục bát - của Đồng Đức Bốn giá trị không sao kể xiết (Nguyễn Huy Thiệp).

 

                                                                             MINH THƯƠNG

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác