Đi tìm giới hạn giữa con người công chức và con người nghệ sĩ


(Toquoc)- Nhà thơ Nguyễn Bình Phương là một trong số những người xuất hiện không sớm, cũng không muộn trên thi đàn so với tuổi đời cũng như so với những thi hữu cùng trang lứa, theo khuynh hướng thơ cách tân. Có thể nói, cũng như Nguyễn Quang Thiều, ngay từ khi cầm bút, Nguyễn Bình Phương không cần mất quá nhiều công sức cho việc tìm đường, thậm chí có thể bỏ qua khuynh hướng thơ truyền thống hay truyền thống cách tân như một số nhà thơ cùng khuynh hướng này. Tất nhiên, đối với thế hệ các nhà thơ trẻ sau này, họ không còn quá khó khăn như thế hệ đàn anh trong việc chọn cho mình một hướng đi trong sáng tạo thi ca. Đối với mỗi thế hệ cũng như mỗi người đều có cái dễ và cái khó riêng, chẳng ai giống ai.


Không cần phải mất nhiều công sức về việc tìm kiếm thủ pháp nghệ thuật hay khuynh hướng sáng tác, nhưng Nguyễn Bình Phương lại có những cái khó riêng, không dễ vượt qua. Điều này được hiển lộ qua hầu hết các tập thơ của ông. 

Đi tìm giới hạn giữa con người công chức và con người nghệ sĩ - ảnh 1
Nhà thơ Nguyễn Bình Phương (Ảnh Internet)

Có lẽ Nguyễn Bình Phương là người duy nhất trong số các nhà thơ hiện đại Việt Nam đặt ra và tìm hướng giải quyết về mối quan hệ giữa con người tự nhiệm - công chức và con người tự do - nghệ sĩ. Điều ấy cho thấy một thực tế là ở Việt Nam rất hiếm có nhà thơ chuyên nghiệp, mà chủ yếu vẫn là những công chức- nghệ sĩ. Dù là ở thời kỳ nào của sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta: thời chiến, bao cấp hay kinh tế thị trường thì người Việt cũng thường khoác lên mình danh xưng về mặt xã hội đầu tiên là làm gì, ở đâu, sau đấy mới đến các danh xưng khác như nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ hay nhà khoa học... có tính chất nghề nghiệp.

Khi nền kinh tế nước ta bắt đầu chuyển sang hướng phát triển thị trường (1986) thì chàng thanh niên mang tên Bình Phương mới vừa 21 tuổi. Cho đến khi anh ra tập thơ đầu tiên Lam Chướng (1994), tức là lúc anh mới gần 30 tuổi, mà đã phải tự cật vấn mình, đối mặt với một thực tế trong sự lựa chọn đầy khó khăn: công chức hay nghệ sĩ: Này tôi/ Một khuôn mặt công chức/ đứng nhìn/ những cuộc họp rạc rài/ tiêu ma bao ý tưởng... (Bài thơ cũ) 

Bình sinh nhà soạn kịch nổi tiếng NSND Tào Mạt có một tâm niệm rất hay: Đã làm quan thì đừng làm hề và ngược lạivì hai thứ ấy đố kị nhau lắm. Làm quan, dù nhỏ hay lớn cũng là làm một con người tự nhiệm, mang trong mình nghĩa vụ và trách nhiệm phải hoàn thành công việc theo ngạch bậc mà mình đang đảm trách trước cộng đồng, xã hội. Làm hề dù vai của anh méo mó hay tròn trịa cũng là tự anh làm ra không bao hàm nghĩa vụ vì ai, mà chỉ vì anh, cho anh và của anh. Như vậy với tư cách là hề, anh hoàn toàn tự do trên sân khấu cuộc đời.

Ứng vào trường hợp Nguyễn Bình Phương mới thấy tâm niệm ấy của NSND Tào Mạt khá sát hợp. Dẫu rằng chỉ là một công chức quèn, vậy mà ông thật sự lúng túng: Một cái chức nhỏ bé/ Một cái chức lăn như cỏ lông chông (...) Một cái chức liu riu ánh vàng (...) Người ạ, ấp má vào vai nghe máu thở/ Không ngồi thì đứng vững cùng mưa/ Vung tay vẽ, người ạ, nét bập bùng của lửa/ kẻo cái chức nhì nhằng vẽ bậy xuống đời ta... (Gửi người khổ sở).

Tôi có chọn ngẫu nhiên 87 bài thơ của Nguyễn Việt Phương để làm một khảo sát nho nhỏ, thật bất ngờ thấy sự lúng túng của ông thể hiện rất rõ trong việc sử dụng từ láy ở các thi phẩm trong thế lưỡng phân giữa một bên là công chức và một bên là nghệ sĩ.

Trong số 87 bài thơ tôi khảo sát có tới 457 từ láy đôi và láy ba, trong đó có một số từ láy được lập lại tới ba lần trong cùng một bài thơ: Nhưng ở nơi trống không rờn rợn ấy/ nơi chết lặng/ vẫn tích tắc tích tắc tích tắc. (Kẻ ngoài cuộc) (...) Ai rót rượu vào trăng/ Sương như mắt thiếu phụ về dĩ vãng/ Đêm/ Lang thang/ lang thang/ lang thang. (Linh nham đêm) (...) Lạ lùng ơi lạ lùng/ Vườn có xanh như ngọc/ Ngọc còn xanh quái đản như trời/ Em kiêu hãnh làm tôi mệt mỏi/ Tháng Chín mắt nâu nhìn chiều vời vợi/ May áo màu rêu em mặc tới mùa thu/ Những khuôn mặt đảo điên mơ màng ngủ/ Giấc ngủ như là con đường xa/ Hoa đã nở trên tay người lạ/ Vệt sáng qua sông thoang thoảng hương nhài/ Lạ lùng ơi lạ lùng không dừng lại/ Yêu em có nghĩa là yêu mây xa/ Nghĩa là yêu chiếc khăn màu cỏ úa/ Với bao nhiêu ký ức chẳng phai tàn/ Em nhìn tôi nhìn sông Hồng chìm đắm/ Không ai chèo đò cho tình yêu qua sông/ Lạ lùng ơi lạ lùng nổi sóng/ Sóng đưa hai ta trôi dạt về đâu... (Than thở)

Trong tổng số 87 bài thì 20 bài có từ 8 - 23 từ láy, 15 bài có số từ láy trên dưới một nửa đơn vị câu thơ. Cũng xin nói thêm rằng, đối với thơ hiện đại, đặc biệt là thơ của các nhà cách tân, khái niệm câu thơ rất khó xác định, câu thơ không còn được viết một dòng, mà có khi là vài dòng, số từ trong một câu có khi là một, nhưng có khi là hàng chục, nhất là đối với thơ văn xuôi và truyện- ngắn- thơ thì lại càng khó xác định hơn. Xu hướng chung hiện nay, các nhà thơ không dùng dấu chấm (.) để ngắt câu như qui tắc ngữ pháp thông thường, vì người thơ cho rằng làm như vậy mạch cảm xúc sẽ bị ngắt quãng. Chính vì lẽ đó, khi khảo sát các văn bản thơ, chúng tôi tạm dùng khái niệm đơn vị câu thơ cho dễ phân biệt với câu thơ truyền thống phương Đông.

Với thơ Nguyễn Bình Phương, chúng tôi thấy có lẽ đây là nhà thơ hiếm hoi sử dụng nhiều từ láy đến như vậy. Nhưng vấn đề không dừng lại ở số lượng từ láy nhiều, mà quan trọng hơn là, dù nhiều nhưng người đọc không cảm thấy nhàm chán, làm giảm giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của bài thơ.

Việc sử dụng nhiều từ láy trong thơ của Nguyễn Bình Phương cho thấy một số khía cạnh sau: 

Về phía chủ quan nhà thơ, chúng hiển lộ rõ thái độ ngập ngừng, lúng túng của chủ thể sáng tạo trong việc lựa chọn khuynh hướng thơ và lựa chọn tư cách cá nhân: công chức hay nghệ sĩ. Đối với việc lựa chọn khuynh hướng thơ cách tân, Nguyễn Bình Phương có vẻ như dứt khoát hơn, vì trong số những bài thơ chúng tôi khảo sát, thấy rất ít, thậm chí là không đáng kể những bài thơ của ông được viết theo khuynh hướng truyền thống hay khuynh hướng cách tân trên cơ sở truyền thống. Còn sự lựa chọn tư cách cá nhân, có lẽ ông đã chọn cả hai: công chức và nghệ sĩ. Vì thế mà thơ Nguyễn Bình Phương vừa mới lạ về hình ảnh, bất ngờ trong liên tưởng, sắp xếp, tự nhiên về giọng điệu, vừa gần với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường của con người, nên không quá khó hiểu.

Về phía người tiếp nhận văn bản thơ, từ láy là cách làm mềm hóa câu thơ, tạo nên những điểm dừng nghỉ, ngắt hơi lấy sức để đọc tiếp. Nếu như không có những từ láy ấy, bạn đọc sẽ rất khó tiếp nhận loại văn bản thơ viết liền tù tì như vậy. Minh chứng sinh động nhất là bài: Những cư dân đồng bằng sông Hồng. Bài thơ gồm 7 câu, mà có tới 23 lần Nguyễn Bình Phương sử dụng từ láy, bởi lẽ bài thơ viết theo thể thức văn xuôi, nên đơn vị câu rất dài:

Họ cấy cày trên lo lắng của anh, họ thất bát trên ý tưởng thơm phức của anh, họ nghiêng đầu chào anh mà không ngó ngàng anh. 

Họ nằm chếch trên đê ngắm sông Hồng trôi tuồn tuột sang chiều, miệng nhấm nhẳng một cọng cỏ may, vòm họng họ ngọt ngọt, nhưng đắng ngắt nếu anh chạm vào họ.

Họ nhổ nước bọt lên buồn đau, họ di chân vào hy vọng, họ ăn nhẩn nha, nói nhẩn nha, làm tình thì hối hả vì họ biết không ở đây được mãi.

Đêm đêm, cây cối trong vườn kiên trì xanh lại, mơ ước của họ đêm đêm cũng ú ớ xanh theo, chỉ những vì sao cuối thu là ngày càng nhòa nhạt.

Dưới mùa mưa dầm dề họ ngồi chơi cờ tướng, con tốt sắn quần lội vào chỗ chết, lại chết một lần nữa, và cứ thế, không lăn tăn nghĩ ngợi, họ cười.

Trong giấc ngủ của họ con rồng trắng cựa mình ngần ngật, rồi sớm ra, hiển nhiên, những dòng mương trời ban nước về trong leo lẻo.

Tôi đã tới thượng nguồn sông Hồng, ngầu, mênh mông, dữ tợn là thế mà sinh ra một châu thổ lững lờ. Họ ở châu thổ ấy, rải rác, lo căng trong yên ả, khi hiểm nguy thì xúm lại thành rừng. Đừng ca tụng họ, đừng rắc bạc lên phù sa vì phù sa đã bạc, hãy trồng thêm những bãi bờ lơ đễnh, nếu bình yên là điều anh mong đợi. (Những cư dân đồng bằng sông Hồng)

Đơn vị câu thơ cuối cùng của bài thơ là dài nhất có tới 73 từ, trong đó có 5 từ láy, mặc dù, trong đơn vị câu thơ này Nguyễn Bình Phương đã dùng hai dấu chấm để ngắt câu, theo cấu trúc của câu văn xuôi, nhưng lại vẫn nằm trong một đơn vị câu thơ.

Đặc biệt Nguyễn Bình Phương đã đưa vào trong các thi phẩm của mình nhiều từ láy khá lạ đối với không ít người: quật quã, rạc rài, rườm rườm, ngun ngún, võ vàng, ngời ngợi, gây gây, ngơ ngất, nhòa nhạt, rờ rỡ, nhấm nhẳng, ngần ngật, than van, quầng quã, tạt nhạt, tung tóa,...

Cùng với việc sử dụng nhiều từ láy và những từ láy mới lạ tạo nên một sắc thái riêng cho thơ ông, rất khó trộn lẫn với những người thơ khác. Điều ấy cần ghi nhận như là một sự đóng góp cá nhân của nhà thơ vào tiến trình đổi mới thi ca Việt đương đại và cũng phần nào nói lên khuynh hướng cách tân thơ mang nghệ hiệu Nguyễn Bình Phương, mà không dễ ai cũng có thể làm được.

Ngọc Đỗ

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác