Đặng Hấn và trò chơi trời cho

Văn Hồng

Thơ thiếu nhi xưa nay có thế mạnh về đề tài thiên nhiên. Còn cái “thiên nhiên thứ hai”, thiên nhiên do con người tạo ra, hay nói cách khác là cuộc sống học tập và lao động thì vừa ít, vừa yếu. Có lẽ Đặng Hấn (ĐH) là người đầu tiên bù đắp vào chỗ yếu này.

Đặng Hấn và trò chơi trời cho - ảnh 1Do tấm lòng luôn hướng về các em, quan sát việc học hành, sinh hoạt của các em, nên anh tạo ra cuộc đối thoại lí thú giữa Bút và công pa: Cái bút bảo cái công pa/ Viết được nhiều chữ như ta mới tài/ Công pa nghe thế mỉm cười/ Chẳng thà viết một chữ thôi, nhưng tròn. Trẻ thường thích so tài ai hơn ai, nhưng sau cái mỉm cười và câu trả lời có vẻ “triết lí” của công pa chắc các em sẽ hiểu ra không nên ganh tị, sẽ ngấm dần cái lẽ sống làm tròn làm tốt nhất công việc của mình. Các em rất thích chơi chong chóng, anh so sánh Chong chóng và quạt và liên hệ: … Phải chong chóng là Bé/ Vui nhảy múa suốt ngày/ Còn quạt kia là mẹ/ Mải lam làm luôn tay?/ Bạn ơi hai thứ đó/ khác nhau chính chỗ này/ Quạt quay làm ra gió/ Gió làm chong chóng quay! Vậy là tác giả đã nhẹ nhàng truyền cho các em nhận thức về bản chất sự vật cùng tình yêu lao động và tình yêu mẹ mải lam làm luôn tay cũng được nâng lên theo hướng tự hào. Trẻ em nào mà chẳng yêu chuyện thần tiên, ĐH kể chuyện Cây đèn thần không phải cây đèn Alađin nhặt được ngoài bãi biển, mà là vật trong nhà: Nhà em có cây đèn thần/ Bóng đèn bằng sắt chẳng cần thủy tinh. Lạ chưa, bóng tròn, bóng dài đềi bằng thủy tinh, bóng mà bằng sắt thì làm sao ánh sáng tỏa ra xung quanh. Đặt xoong háo thành nồi xôi/ Khách của bố mẹ lại chơi/ Ấm nước lạnh hóa nước sôi pha trà. Thì ra không phải cái đèn thắp sáng, mà là đèn đun nấu. Những năm 1970-1980, nhà nào mà chẳng có bếp dầu lửa. Từ đun bằng rơm rạ, bằng củi, bằng than tổ ong, đến đun bằng dầu lửa là một bức tiến về công nghiệp hóa. Sự việc khách quan là thế nhưng tác giả đã nâng lên ý nghĩa khái quát của bài thơ: Cái bếp dầu lửa đó mà. Có tay em đã hóa ra đèn thần. Vậy là dù hiện đại đến cỡ nào, cũng cần có bàn tay con người, cần có “lao động sống”, dù là lao động nhẹ nhàng của trẻ em. Bài thơ hay và được nhiều người thích về cái thiên nhiên thứ hai này là Cầu chữ Y: Cầu nào chẳng chữ I/ Nhưng chỉ là I ngắn/ Cầu quê em lạ lắm/ Làm hẳn chữ Y dài. Có nhà thơ cho rằng những câu thơ này chỉ là “một đống chữ mòn nhẵn”. Tôi nghĩ khác. Đây là những câu thơ có tính phát hiện. Trước năm 1982, bao nhiêu người đến tưởng niệm Nguyễn Du ở cánh đồng Cùng, vậy mà chỉ Vương Trọng phát hiện: Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên/ Ngờ đâu cụ Nguyễn - Tiên Điền nằm đây. Cũng như thế hàng triệu người qua cầu chữ Y mà chỉ có Đặng Hấn nhận ra cái lạ lắm của nó. Người bình thường chỉ thấy lạ khi đứng trước những cái thật khác thường, nhà thơ có tài hoa là thấy và lạ hóa những sự việc bình thường. Dĩ nhiên là như nhều bài thơ khác của anh, Cầu Chữ Y phát sáng ở hai câu kết thúc: Ôi! Người đi trên chữ/ Chữ nâng người lên cao.

Có một điều bình thường nữa: “Hết ngày dài lại đêm thâu” chúng ta đều dùng điện mà chưa ai tìm được lời giải thích giản dị, dễ hiểu về điện. ĐH cũng vậy, nhưng anh biết miêu tả những trạng thái sử dụng nó. Anh có 5 bài thơ về điện. Từ điện trong ti vi tạo nên phép mầu thần tiên: Hai đội bóng quốc tế/ Tranh giải trong góc nhà, điện trong tủ lạnh: Khép cửa là Đà Lạt/ Sài Gòn ở ngoài hiên/ Già Tuyết nấp trong tủ/ Mời bé lại ăn kem, đến các loại điện có quy mô, cường độ khác nha: Cũng là điện cả thôi/ Đố ai nhìn thấy dạng/ ở loa thì hát ca/ Vào đèn thì phát sáng/ Điện thu mình nhỏ xíu trong hạt đậu - hạt pin/ Giúp máy tính trừ cộng/ Mà như chơi trốn tìm/ Rồi điện vụt lớn lên/ Hơn Thánh Gióng thưở trước/ Năm trăm Ki-lô-vôn/ Ngang tầm dài đất nước/ Vui chưa từng cánh quạt/ Gió ào ạt phả ra/ Trưa Sài Gòn nắng khát/ Chợt mát sông Đà! Đây là toàn văn bài Điện được sáng tác để chào mừng một thời sự lớn: hoàn thành lưới điện Bắc Nam.


2. Đặng Hấn có nhiều bài thơ thời sự với cảm hứng ca ngợi đất nước như thế. Thơ thời sự rất khó viết, nhất là viết cho thiếu nhi. Khó thật, nhưng ĐH vượt qua dễ dàng. Có lẽ nhờ gắn bó với thiếu nhi và tình cảm nồng nàn với mỗi thành tựu của tổ quốc. Đất nước thống nhất, anh vào Sài Gòn thăm những người ruột thịt. Cái ngỡ ngàng ban đầu là sự khác biệt ít nhiều về tiếng nói: Tôi gọi là qủa muỗm/ Cháu sửa là trái xoài/ Cháu thì kêu trái mậm/ Tôi gọi là quả roi… Mới vài năm qua thôi/ Nay tôi vào công tác/ - Con mời cậu cầm bát/ - Má cầm chén đi nè/ Tôi hỏi: Diêm đâu cháu?/ Hộp quẹt, cháu đưa ngay/ Cháu mời tôi xơi muỗm/ Lại mời má đi ăn xoài! Chỉ vậy thôi mà người đọc đồng tình với niềm vui của ĐH trong hai câu kết: Niềm vui hai cậu cháu/ Như lại vừa nhân hai (Chuyện cậu cháu tôi).

Một bài thơ thời sự khác được nhiều người ưa thích: Sài Gòn và bé: Sài Gòn mới ba thế kỉ/ Con bé đã sáu tuổi đời/ Sài Gòn vẫn rất non trẻ/ Bé ư, bé lớn thật rồi. Với một miền đất mới 300 năm của Tổ Quốc đã mấy ngàn năm thì đúng là non trẻ, nhưng với một em bé thì 6 tuổi là đã lớn thật rồi. Cái duyên của Đặng hấn là thế, anh phát hiện những điều rất hiển nhiên rồi so sánh, đối chất để hướng người đọc đến những kì diệu của thời đổi mới: Từ bãi tha ma ảm đạm/ Sài Gòn cho bé công viên/ Bé từ bờ kênh u ám/ Bay lên cửa sổ sáng đèn và kết luận thật bất ngờ: Trong vẻ đẹp giàu thành phố/ Bé ơi, có bé góp phần/ Nếu thiếu tiếng cười trẻ nhỏ/ Sài Gòn hỏi có còn xuân?

Trong niềm vui đất nước đổi mới và cảm hứng thời đại (công nghiệp hóa và hiện đại hóa), ĐH kể lại các cổ tích, từ Lọ nước thần, Ông Gióng đến Sơn Tình Thủy Tinh: Nhớ đến Sơn Tinh ta mến phục/ Chuyện xưa truyền mãi với thời gian/ Nhưng còn ngàn vạn Sơn Tinh mới/ Đang ở sông Đà ở Trị An… Bắt Thủy Tinh làm ra ánh sáng/ Đem vui tươi đến vạn muôn người/ Sơn Tinh lao động quên ngày tháng. Chẳng phải riêng vì một lứa đôi.


3. Nghe nói, hồi nhỏ, học cấp I, cấp II ở quê (Xã Lê Lợi- Kiến Xương- Thái Bình) và cấp III Tân Trào (Tuyên Quang) ĐH chăm học và giỏi đều các môn. Khi thi vào Đạo học Tổng hợp Hà Nội, anh lưỡng lự giữa hai ngành: Văn/ Toán. Và rồi anh chọn Toán. Sau gần 40 năm học và nghiên cứu Toán, ĐH đã trở thành một Phó giáo sư có nhiều công trình nghiên cứu và dịch thuật được công bố. Giáo trình “Xác suất và thống kê toán” của ĐH quen biết với rất nhiều sinh viên ở hầu hết các trường Đại học và Cao đẳng trong nhiều năm qua. Còn văn chương là trò chơi “trời cho” như ĐH thường chơi chữ. Dù vậy trò chơi đã trở thành một sự nghiệp đáng nể. Có lẽ thành công của ĐH là nhờ phần nào đó anh đã biết đem cái đẹp tư duy toán học và chất liệt toán vào thơ: Một với một là hai/ Như em có đôi tay/ Làm được bao việc tốt/ Như em nắm tay bạn/ Đi tới trường buổi mai/ Như thể cha và mẹ/ Con yêu thương, hàng ngày/ Một với một là hai… Với nhi đồng thì một với một là hai là bài toán đơn giản nhất, vậy mà ĐH đã nói được bao điều; tình nhà, tình bạn và cả phong trào làm việc tốt. Hồi nhỏ, tôi từng hát: Ông Nỉnh, ông Ninh/ Đi ra đầu đình/ Thì gặp ông Nang… Ông Nảng, ông Nang/ Đi ra đầu làng/ Lại gặp ông Ninh… Bài đồng giao buồn cười và vô nghĩa mà chúng tôi hát mãi không chán. Ước gì bài đồng giao mới của Đ. H sẽ trở thành bài hát được phổ biến khắp. Còn bốn phép tình cơ bản lại thành bài thơ ca ngợi mùa xuân: Đàn ong làm phép trừ/ Trừ rét bằng mật ngọt/ Bầy chim làm phép chia/Chia niềm vui tiếng hót/ Tia nắng làm phép nhân/ Trời sáng cao rộng dần/ Vườn hoa làm phép cộng/ Số thành là mùa xuân. (Các nhà toán học của Mùa Xuân).

Đã có bao nhiêu thơ viết về mùa xuân, nhưng chưa bài thơ nào tôi thích bằng bài này. Trước hết vì nó gắn liền với việc học của các em. Cũng như Tháng giêng ngon như một cặp môi gần gắn với tình yêu trai gái của Xuân Diệu. Sau nữa, ĐH không chỉ miêu tả mùa xuân mà là cái hé lộ dần dần của mùa xuân, từ mùa đông rét mướt chuyển sang. Cái mùa xuân ở phút giao thừa thiêng liêng.

Có thể nói: óc quan sát và tư duy khoa học nhạy bén cộng với một tâm hồn thơ nhân hậu, lạc quan, giàu tưởng tượng đã làm nên phong cách thơ ĐH: Vừa ngộ nghĩnh hồn nhiên vừa sắc sảo trí tuệ, gắn bó với truyền thống nhưng luôn có cảm hứng đổi mới, hiện đại. Nhưng tấm huân chương nào cũng có mặt trái như có lần anh tự phê: nặng về lí mà nhẹ về tình.


4. Ở trên tôi có nói: trò chơi thơ của ĐH đã thành một sự nghiệp đáng nể. Vâng, với mấy trăm bài thơ đã viết và hàng chục bài được khen đây đó thì đáng nể thật, nhưng khẳng định đó e còn bất cập. Vài chục năm nay, anh đã làm thêm một sự nghiệp đáng nể khác: nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn các tuyển tập thơ và câu đố:

Kì Vọng (1998), tuyển thơ của 5 nhà thơ đã và đang dạy toán.

Cây đèn thần (1998) tuyển thơ các nhà thơ thiếu nhi có nhiều thành tựu.

Thơ nhớ từ thơ (2003) tuyển chọn và biên soạn 500 bài thơ thiếu nhi của 150 tác giả.

Giữa năm 1999 được Nguyễn Vũ Tiềm cổ vũ, ĐH đã mở một sân chơi thơ - câu đố trên tuần bào Tài Hoa Trẻ: 1001 bài thơ chờ bạn đặt tên. Trong hai năm, hàng mấy trăm ngàn lượt độc giả đã hưởng ứng đặt tên và bình giải. Từ cuộc chơi lí thú này anh soạn thành 3 đầu sách: 1001 bài thơ chờ bạn đặt tên (2001), Chân dung nhà văn (2003), và Câu đố xưa và nay (2004) mỗi cuốn từ 300 đến 400 trang sách khổ trung bình. Vậy chỉ tính hàng ngàn trang biên soạn, khảo cứu… PGS toán học ĐH cũng có thể được phong thêm tiến sĩ văn chương. Không như môn xác suất có tính chất may rủi mà anh giảng dạy, ĐH làm sách rất có nghề: sách biên soạn, biên tập kỹ, trình bày, in ấn đẹp.

Thơ nhớ từ thơ là một công trình công phu. Ngoài thơ lại còn phụ bản in 102 ảnh chân dung tác giả. Lâu lắm rồi, không còn theo dõi phong trào, tôi như lạc vào một vườn thơ đầy hương sắc lạ. Có người chưa hề nghe tên này bỗng gặp với những bài thơ xuất thần. Để trả lời câu hỏi về tính đại diện của tuyển, tôi làm một phép thử: Nguyên tôi có quen biết và mến mộ một nhà thơ thiếu nhi lão thành. Ông có 7 tập thơ thiếu nhi đã xuất bản, tại sao ông không có mặt trong Cây đèn thần và ở đây số bài được chọn đếm chưa đủ một bàn tay? Tôi bèn đọc lại tuyển thơ của ông và thấy chọn thêm một bài nữa cũng khó. Thơ ông giàu hình tượng gần như đồng dao nhưng đề tài hẹp và có phần đơn điệu. Tôi nghĩ làm tuyển cho phong trào phải là một công trình của tập thể, một người làm sao có thể đọc hết biển thơ? ĐH giải quyết mâu thuẫn này bằng cách làm thông minh. Anh chỉ chọn những bài thơ mình nhớ, mình thích đã xuất hiện nhiều lần trên sách báo. Anh dựa vào sự chọn lọc của công chúng và thời gian. Vì vậy cái thích của anh gần trùng khớp với cái thích của mọi người, của các em. Về cách sắp xếp, anh không theo tác giả mà theo đề tài. Những ai cần dùng thơ để minh họa cho một chủ đề, chủ điểm có thể dùng tuyển này như một công cụ hữu ích.

ĐH từng tự trào: Dáng thất thểu lang thang/ Người cao cao ốm ốm/ Da tái tái vàng vàng… Vâng, ĐH không phải là người có sức vóc. Vậy từ đâu mà anh có thể làm nên sự nghiệp trong hai ngành (văn - toán) và trở thành ba nhà (nhà giáo, nhà thơ và nhà nghiên cứu văn chương) tôi nghĩ là từ năng lượng tinh thần, từ tấm lòng nhân hậu, và một trí thông minh mẫn tiệp. Mặt khác cũng từ gia đình: người bạn đời và các con Ngọc Hân, Bình Phương yêu thương của nhà thơ. Họ vừa là nhân nhân vật, là đối tượng miêu tả, là bạn đọc đầu tiên, là người cộng tác trong các khâu biên tập, in ấn và phát hành. Thì ra để được trời cho trò chơi thơ, ĐH đã được trời cho không ít thức quý giá khác.


Tháng ba 2006

(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác