Đàm đạo với thơ Lê Nguyên Ngữ


(Toquoc)- Lê Nguyên Ngữ tên thật là Lê Văn Tám, các bút danh khác: Nguyễn Ngê Lư, Lê Nguyên… Sinh ngày 20/02/1949 (Kỷ Sửu), quê làng Sa-Ra, xã Hàm Đức. huyện Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Các tác phẩm chính gồm có 7 tập truyện, 1 tập tiểu thuyết, và những tập in chung khác.

Hai lần đạt giải thưởng cuộc thi truyện ký báo Tuổi Trẻ (1983, 1993), giải thưởng báo Văn nghệ TP.HCM (1983), giải đặc biệt báo Tiền Phong (1993), giải truyện phim báo Văn nghệ HNV.VN (1994), báo Người Lao Động (1994), giải thưởng Tạp chí Văn nghệ Quân đội (2008- 2009). Ba lần giải thưởng Văn nghệ Dục Thanh (Phan Thiết 1997, 2005, 2011) cùng nhiều giải thưởng khác…

Tập thơ “Thơ Lê Nguyên Ngữ” (NXB Văn học, tháng 10/ 2012) là tập thơ duy nhất của ông.

 Đàm đạo với thơ Lê Nguyên Ngữ - ảnh 1
Vợ chồng nhà thơ Lê Nguyên Ngữ, Võ Thị Hồng Tơ

Khởi đầu nghiệp viết bằng những bài thơ “gan ruột” như: Đêm nghe Lục Vân Tiên nghĩ về thầy Đồ Chiểu. “Đất nước bây giờ nào đã hết khó khăn đâu/ Những Bùi Kiệm, Trịnh Hâm/ Vẫn sót còn trong xã hội/ Lật trang thơ lại thấy mình có lỗi/ Ơn người từ tăm tối ơn ra… ” Lê Nguyên Ngữ lại chuyển qua viết văn xuôi và đã thành công với các giải thưởng về truyện ngắn báo Tuổi trẻ năm 1983, 1993, tuần báo Văn nghệ Tp.HCM năm 1983, báo Tiền Phong 1993, báo Văn nghệ hội NVVN 1994, báo Người Lao động 1994, tạp chí Văn nghệ Quân đội 2008- 2009 cùng nhiều giải thưởng văn xuôi có giá trị khác… Tháng 10/ 2012, nhà văn Lê Nguyên Ngữ lại gom góp tuyển chọn trong “gia tài” Thơ của mình 37 bài thơ và in thành tập “Thơ Lê Nguyên Ngữ” (do NXB Văn học ấn hành). Theo Lê Nguyên Ngữ, đây là “tập thơ duy nhất” của anh. Lẽ nào anh lại “khép kín” cánh cửa Thơ của lòng mình?

Bỗng thấy tiếc những bài thơ đầy khí phách, hào sảng và rất tâm trạng của con người vùng biển, anh chưa đưa vào tập lần này…

37 bài thơ trong tập thơ Lê Nguyên Ngữ có chung cùng số phận mà mỗi bài thơ lại là những tiếng nói thì thầm phát sinh từ trái tim người thi sĩ, những tiếng nói riêng biệt cất lên và… Thơ với thơ cùng đàm đạo, thi nhân, thi sĩ cùng sẽ chia. Không giới thiệu, không bình hay dở, cũng chẳng có “hội thảo”, “đối thoại”, chỉ dựa vào thơ để nói chuyện thơ, ấy là đàm đạo.

Lê Nguyên Ngữ vốn quê làng Sa- Ra, xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Nói chung là quê Phan Thiết, thì đấy bài thơ Phan Thiết buổi về, Phan Thiết Cà Ty chảy gặp cầu, Đêm Trăng Lầu Ông Hoàng… đã nói hộ anh nhiều điều.

“Phan Thiết buổi ta về cát hát/ Mù trên lối vỏ ốc sò xưa/ Xóm chài nhỏ em dấu yêu đã lạc/ Cồn phi lao tóc gió gọi sang mùa… /… .Ngày tháng ngạc nhiên quay trở lại/ Bay mù trên bãi thuở em qua/ Dấu chân gặp sóng như là thể/ Gặp lại người yêu vỡ khóc òa” (Phan Thiết buổi về). Những câu thơ chậm buồn, hoang hoãi như bước chân chậm trở về. Chắc là tác giả còn ngại một điều chưa thể nói ra?

Đau đáu lắm khi : “Phan Thiết buổi về ta mất em/ … Áo ai ngày cũ bây giờ đã/ Bay suốt một miền xanh tưởng quên.” (12/ 1993)

Riêng tư một chút. Bài thơ Phan Thiết Cà Ty chảy gặp cầu, trở thành một… giai thoại, cho Sông gặp Cầu thì cũng cho Lê Nguyên Ngữ gặp… Võ Thị Hồng Tơ để hai người nên duyên chồng vợ, sẻ chia cả quãng đời còn lại và duyên nợ văn chương, cho dù “Cơm áo không đùa với khách thơ”?

“Có dòng sông chảy mãi chẳng gặp cầu/ để nước dỗi đôi bờ chao mặt sóng/ Về Phan Thiết, Cà Ty lòng chẳng rộng/ Lại nối bờ vui mấy chiếc cầu!”

Ồ! sao lại mấy chiếc cầu nhỉ? Thì đây: “Cong vòng trời ba chiếc cầu sang/ Để con nước về ngẩn ngơ không muốn chảy/ Và buổi chiều thành ra không có đáy/ Khi soi mình vào giòng sông xanh”. Hiện thực đúng là như thế, những câu thơ như hơi thở, lay động và điều nhà thơ muốn “đính ước” là đây: “Ba chiếc cầu vạch mấy trường canh/ Chảy giòng nhạc Cà Ty bờ bến hát/ Cho mỗi câu thơ tôi viết về Phan Thiết/ Là nhịp cầu hò hẹn để em sang” (1982)

Phan Thiết, lầu Ông Hoàng gắn với tên tuổi thi sĩ Hàn Mặc Tử, một thi sĩ tài hoa trong nhóm “Bàn Thành Tứ Hữu”, Lê Nguyên Ngữ đến lầu Ông Hoàng là muốn?...

“Tôi đến Phú Hài, lầu Ông Hoàng/ Bên kia dốc đá trăng vừa lên/ Nhớ xưa thi sĩ Hàn Mặc Tử/ Phan Thiết bài thơ tỏa sáng trăng!”, đến chỉ để “nhớ” và tưởng niệm Hàn, cùng bạn bè: “Tôi lại về đây với bạn bè/ Cạn dăm lít rượu vỗ đàn ca/ Vầng trăng treo giữa đời thi sĩ/ Nhân ảnh sương mờ - ta với ta!” (1990). Cũng cùng một vầng trăng xưa mà hai thế hệ thi sĩ đã khác trong nỗi niềm thế sự vấn vương. Bài thơ dường như đuối trước thi ảnh trăng của Hàn?

Tập thơ không sắp xếp mà như đã chia ra theo cảm xúc, trình tự thời gian. Thì thôi, chút mơ mộng xưa, thuở áo trắng học trò, cũng lắm đắm đuối mộng mị?

Tháng giêng ngoan, bài thơ đầu tiên trong tập là của một trái tim thuở lần đầu… tập yêu, dẫu nhà thơ tuổi đã ngoài “tứ thập” khi viết bài thơ này: “Tháng giêng/ Ừ nhỉ, tháng giêng ngoan/ Xuân ngõ em về màu rất xoan/ Cúc vàng ra đóa bên đường nắng/ Ngóng tuổi thương nên cải mới ngồng/… Tháng giêng/ Ừ nhỉ tháng giêng hoa/ Em đi bài thơ. Ôi kiêu sa!/ Tôi ngồi hỏi nắng bao nhiêu tuổi… ”. Có lẽ câu thơ cuối bật ra để… hết bài thơ? Có vẽ gì đấy… phủ phàng: “Mà mới ra giêng đã xế già?” sao lại hỏi tuổi nàng thơ? Hỏi tuổi tình yêu để… chê “Xế già”?

Thì thôi Nếu mai mốt… : “Nếu mai mốt mình không quen nhau nữa/ Lớp bàn ơi! Lạnh đến muôn trùng/ Những tiết học vô hồn lên trang vở/ Tiếng cô thầy ai sẽ nghe chung?”, là cái lẽ thường thôi của tình yêu mới lớn: “Nếu mai mốt mình không quen nữa/ Là thôi… xa cách mãi nhau rồi! Giòng sông ngày cũ quen thành lạ/ Đôi bờ con nước chảy… xa xôi.”

Rồi vẫn một chút cũ càng: “Mười năm hồn ngoài cửa lớp/ Theo từng dáng áo ai bay/ Trưa nay lòng theo chiếc lá/ Rơi vèo, em về có hay?” để rồi buồn nấn níu: “Ai xui chim bầy vỗ cánh/ Giữa chừng pháo đỏ đường vui/ Áo em bay về qua ngõ/ Bên tôi hạ tới ngậm ngùi” (1989).

Có nhiều người chia thơ “cũ- mới” rồi thì thể loại “Cổ điển, Tân cổ điển, Tân hình thức, Hậu hiện đại”… Theo Lê Nguyên Ngữ thì chỉ có thơ hay và thơ… không hay, cái võ hình thức, ngôn ngữ hay sắp đặt, điệu đà, thì thơ vốn đã đầy nhạc tính, nhạc điệu, âm hưởng buồn lan tỏa. Thơ Lê Nguyên Ngữ giữa làn ranh mới cũ, vẫn in dấu truyền thống, và vẫn có lượng độc giả khá đông ủng hộ.

Và quay lại thuở… trung niên, ngồi mơ: “Đời đẹp quá nên tôi còn lẵng đẵng/ Em bây giờ tôi ngỡ với em xưa/ Tự lừa mình nên tôi lại làm thơ/ Con đường vắng chợt thèm nghe tiếng guốc!/ Nhưng dép em đi/ tôi làm sao biết được?/ Chỉ thoáng nghe lún nhẹ xuống tim mình”… thì không thể gọi là cũ?

Chút tung tẩy là khi nhớ về Đà Lạt vùng đất ngàn hoa hoặc khi đắm mình bên hương sen Đồng Tháp. Lê Nguyên Ngữ lại thêm vào thơ chút ý vị, hào sảng vốn sẵn có: “Đà Lạt úp đồi và ngữa nhiều thung/ Thông mãi bù trừ thành lắm chuyện/ Lỡ cất bước nên đời chúng chiếng/ Đứng hay nằm thế cõi vẫn sương nghiêng’ (Đà Lạt nghiêng), hay như thế này: “Đà Lạt đạt là ta đã lạc/ Người em năm cũ với sương mù/ Bỏ ta say khướt bên trời lạnh/ Lảo đảo giữa trời khuya chớm thu.” (Đà Lạt đạt là… ), và đây với “Nhớ Gáo Giồng”: “Tràm chim ta rời đêm khuya khoắt/ Muộn màng chi mấy, chuyến Tàu Lô!/ Ngực em nở ngát sen Đồng Tháp/ Nhọn mãi vào ai- đêm phương Nam?”

Để rồi khắc khoải lắm những tạ từ, khi nhà thơ đã mỏi: “Mai này lục lại miền thương nhớ/ Tên người, tên đất, núi cùng sông… / Nhắc nơi Đồng Tháp lòng ta lại,/ Se thắt thương em nhớ Gáo Giồng”. Và bịn rịn với Đà Lạt: “Mai này ta lại về châu thổ/ Trăm nhánh sông xuôi bóng núi đồi/ bát ngát tràng giang lòng sóng nhớ/ Trôi về Đà Lạt chiều chưa phôi.” (Tạ từ Đà Lạt), một chút ngập ngừng, lặp lại, có vẻ nhớ nhớ, quên quên?

Nhà thơ Xuân Diệu từng viết: “Tình yêu và thơ là hai phạm trù mà trong đó cái tuyệt vời thông minh kết hợp với cái tuyệt vời ngây thơ, là hương đặc bịêt của một số tâm hồn thi sĩ và tình nhân” còn Beilinxki thì quan niệm: “Thơ, trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật.”. Thơ Lê Nguyên Ngữ có vẽ bao gồm những định nghĩa đó. Một thời anh mộng mị đắm đuối với tình yêu ngây thơ tuổi học trò: “Em bỏ học rồi, đôi bím tóc/ Gió đời còn để lửng lơ lưng/ Mồng tơi lệ tím rơi ngoài cửa/ Em ở phương trời có biết không?” (Cửa sổ nhà bên đôi bím tóc). Và rồi giòng đời trôi nổi với bao phù trầm dâu bể, cả cuộc đời Lê Nguyên Ngữ cũng dập vùi trong sóng gió mưu sinh: “bất chợt nhìn hoa nở/ Ta bỗng thấy mình tàn/ Chiều xuân như lệ ứa/ Xuống lòng sương mênh mang/ … Tự dưng ta bật khóc/ Giữa cô đơn khôn cùng” (Giữa cô đơn khôn cùng). Nhà thơ tâm sự qua hình ảnh bạn: “Nếu phải tuổi nhiều mà sức vụng/ Còn mấy mươi năm bạn học hành?/ Vì đời, cơm áo đâu là trọng/ Ai nghĩ mình phường vá túi khinh” (Đâu biết xuân này ta gặp bạn). Qua hình ảnh cô gái bán quán: “Ta khách qua đường, dân tứ xứ/ Quán nghèo kinh tế mái tranh xiêu/ Nâng ly khôn ấm hồn cô lữ/ Bởi mắt em còn lạnh hơn chiều/… Vốn dĩ đời thường cơm áo bạc/ nên xui thân gái má phai hồng/ Một ra đi đã là một khác/ Quê cũ chừ thương cách mấy sông!”. Phiêu tán, phiêu linh và phiêu bạt… đó là tâm trạng của thế hệ Lê Nguyên Ngữ. Nên buồn trong thơ và cũng buồn trong ánh mắt, và vì thế nghệ thuật thơ vốn đa thanh, đa sắc. Chọn một cung điệu đã đủ thấm lòng tri kỷ, tri âm!

Lê Nguyên Ngữ quay về với thơ và in thơ, cho dù là tập thơ “duy nhất”, chẳng có gì lạ. Bởi Ngữ ra đi thế nào, thì lúc muốn quay về cũng phải chọn cho mình một tâm thế… thi sĩ. Ngoài cái tuổi sáu mươi, anh sống yên ổn và hạnh phúc bên người vợ cũng là một nhà thơ, tâm huyết với thơ, sáng tác còn sung sức và mãnh liệt lắm. Nhà thơ đôi khi cũng chợt nhớ đã có lúc: “Thôi trách làm chi bài ca con sáo/ Cũng đừng buồn song thưa/ Cũng đừng hỏi chiếc khăn tay sao vo tròn/ Không vẫy trắng theo xe như cánh buồm tiễn biệt” (Tiễn người yêu đi bước nữa). Bởi một điều: “Men chia tay như men rượu gạo/ Ngấm lòng tôi vang vang!”. Sao thế nhỉ?

Thì đấy, dưới mái ấm của gia đình, Lê Nguyên Ngữ đôi khi: “Giận em đi đã mấy hôm/ Lêu bêu nhà bạn mà hồn xửng xơ/ Biển hay nổi bão với bờ/ Chén trong sống còn động, hồ tình ta!”. Để rồi tự kiểm điểm với chính mình: “Anh thì mãi tính ham chơi/ Đầu hai thứ tóc mà đời vô tư/ Thương mình lấy phải anh hư/ Vai trăm thứ khổ cũng vì chồng con/ Tiền cuối tháng, gạo không còn/ Vẫn rượu cho bố trà ngon cho chồng… ”, cuối cùng thì nhà thơ cũng phải: “Mai về lại thấy em trông/ Thằng cu chạy té vào lòng gọi ba!/ Sau lần giận giận lần xa/ Ôm con anh mãi bên nhà, nhà ơi”…  Hối và nịnh thế thì mấy ai mà không tha thứ… mĩm cười?

Có lẽ tứ và hồn thơ Lê Nguyên Ngữ cho dù loay hoay thế nào, thơ anh vẫn mang cái chất xưa hào sảng, với chút ngẫm ngợi: “Tôi về Phan Rí dong xe ngựa/ Mười lăm năm cũ đáo quê nhà/ Hiên xưa đậu phộng em ngồi lặt/ Hàn sĩ vòm mui võng lọng xa”. (Tôi về Phan Rí đi xe ngựa), có lúc nào mong mình là Lý Bá Hề không? Mà: “Bên núi hai ta cùng bóng núi/ Rượu dê vừa rót đã be… he…/ Bạn dáng thiền sư bên chiếu cỏ/ Và giống phàm phu lúc uống… khè!”. Hay đời người lúc hoàng hôn xế bóng, cái âm âm vô ảnh vô thanh, cũng bằng một tiếng… dê gọi chiều: “Ta nói chưa xong câu bạn nói/ Như ngày chưa khuất núi nghiêng che/ Quẩn quanh chiếu nhậu đàn dê cỏn/ Rượu tiễn bên chiều be… be… he… !” (Mùa xuân uống rượu với người chăn dê).

Vậy đó, không rượu bầu thơ túi, có lúc trầm luân vào những mộng mị thơ ca. Một thời gian dài thôi làm thơ. Lê Nguyên Ngữ đã có “số má” trên văn đàn ở lĩnh vực văn xuôi. Sự trở về ngôi nhà thơ, có khi làm người thơ lúng túng, bối rối khi chọn lựa, nhưng dù sao thơ vốn chẳng đòi hỏi gì cao vời vợi, đủ sức thì cũng như Nguyễn Du nói: “Mua vui cũng được một vài trống canh”, mà cái “tiếng trống canh” ấy lại vang dội, vang xa và neo vào hồn bỗng một đêm ta nhớ… Có một tiếng thơ Lê Nguyên Ngữ…

Trần Hoàng Vy

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác