Chúng tôi Kỷ Sửu!

Ngô Minh

(Toquoc)- Vâng, cám ơn trời đất các nhà văn tuổi Kỷ Sửu chúng tôi vẫn dạt dào cảm xúc sáng tạo, cho dù cuộc sống riêng ai cũng đầy dằn vặt… Năm nay là năm Kỷ Sửu, ai tuổi này sẽ là năm tròn vòng hoa giáp 60 năm. Phải sống 60 năm nữa mới được sinh nhật Kỷ Sửu thứ hai trong đời, có lẽ không bao giờ có được.

Chúng tôi Kỷ Sửu! - ảnh 1
Nhà thơ Ngô Minh
Bạn biết không, theo tử vi Kỷ Sửu là Trâu trong chuồng, tự làm lấy mà ăn. Họ là những người nhanh nhẹn, tháo vát, dũng cảm, lòng ngay thẳng, bộc trực, nóng nảy, có tài năng nghệ thuật, nhưng luôn khổ tâm, dằn vặt chuyện đời, hay trắc trở đường tình duyên.
Cay đắng lắm vẫn nói cười như không (Ngô Minh). Trong số những người Kỷ Sửu có tài mà tâm khổ ấy, người vướng phải nghiệp chướng văn chương như tôi nhiều lắm. Chỉ lật dở cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại (NXB Hội Nhà văn, 2007) đã thấy trong số 1157 nhà văn, có 40 nhà văn tuổi Kỷ Sửu (sinh 1949). Nếu tính 12 con giáp, rồi 10 chi, thì phải có 120 năm tuổi khác nhau. Nghĩa là trong cuốn sách đó mỗi tuổi chỉ bình quân chưa tới 10 nhà văn, thế mà Kỷ Sửu có tới 40 “nhà”. Nhiều lắm đấy chứ. Đó là chưa kể hàng trăm văn nhân Kỷ Sửu tài ba nhưng chưa vào Hội, hoặc không cần vào Hội. Đêm giao thừa này, những nhà văn tuổi Kỷ Sửu hãy cùng nhau ngước lên trời, gọi to chào năm trọn vòng hoa giáp của mình đang về: Chúng tôi Kỷ Sửu !

Nhà văn đương đại Việt Nam tuổi Kỷ Sửu có nhiều người nổi tiếng, tác phẩm của họ đã ngấm vào lòng bạn đọc nhiều thế hệ trẻ Việt Nam như Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Minh Khuê, Trung Trung Đỉnh, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Hoàng Sơn, Bế Kiến Quốc (đã mất), Lê Thị Mây, Đức Ban, Hữu Phương, Mai Văn Hoan, Hải Kỳ, Nguyễn Đức Thiện, Tùng Bách, Văn Lê, Thảo Phương (mới mất).v.v.. Thầy xem tướng mệnh hỏi giờ sinh rồi phán: tuổi Kỷ Sửu đẻ ban đêm thì sướng hơn đẻ ban ngày, đẻ buổi chiều sướng hơn buổi sáng, vì đẻ ban ngày, hay buổi sáng, thì phải “trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta”. Nhưng cuộc đời không đơn giản như vậy. Số phận tuổi Kỷ Sửu chúng tôi gắn liền với vận mệnh đất nước. Đa số những nhà văn Kỷ Sửu đều hiến dâng tuổi thanh xuân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc như tôi, Văn Lê, Huy Trụ, Trung Trung Đỉnh, Nghiêm Huyền Vũ, Nguyễn Trọng Tân, Lê Thị Mây, Đức Ban .v.v.. Và văn chương của chúng tôi đã sinh ra từ đó. Anh không có tuổi chơi tuổi ngủ/ nhận khẩu súng núi xa gần lại/ mỗi ụ mối gốc cây cũng Tổ Quốc mất còn/ những câu thơ ghi vội giữa chiến trường (NM)… Xin điểm mặt vài “công dân” Kỷ Sửu nhiều tăm tiếng mà tôi quen biết…

Chúng tôi Kỷ Sửu! - ảnh 2
Nhà văn
Trung Trung Đỉnh
Nhà văn Trung Trung Đỉnh, giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Anh đã thành người Tây Nguyên, “già làng Tây Nguyên” từ trong máu thịt. Mười bảy tuổi đã thành người lính Tây Nguyên lăn lộn cùng bà con Bah Nar, Ê đê, Gia rai đánh giặc giữ buôn làng suốt 10 năm. Anh nói thạo tiếng Bah Nar
. Truyện ngắn đầu tiên "Những khấc coong chung" anh tập viết ở một hang đá Gia Lai, viết mổ cò bằng cái máy chữ nhặt được trong trận đánh đồn An Khê.

Đã gần 40 năm rồi, những tác phẩm nổi tiếng, được giải thưởng đây đó của anh như tiểu thuyết: "Lạc rừng" và "Ngược chiều cái chết" vẫn đậm chất Tây Nguyên. Dù rắc rối chuyện nhà, anh vẫn say viết, say đi. Bây giờ thỉnh thoảng anh vẫn trốn lên với bà con buôn làng dăm bửa một tháng, lên với những người đã cùng anh “chít máu ăn thề” năm xưa đánh giặc, để uống rượu cần, dự lễ “bỏ mả”. Mặt mũi thì bặm trợn nhưng rất hiền và có khi nhát nữa. Tôi hay in bài ở Văn nghệ Quân đội nên quen Đỉnh. Ở Đại hội Nhà văn IV (1989), một Đại hội đổi mới rất căng thẳng, các nhà văn hay hỏi nhau: “Anh là ai?”. Câu hỏi có ý mỉa mai “anh là nhà văn nhưng có ai biết không”. Giờ giải lao, tôi hỏi trêu Đỉnh: “Ông là gì nhỉ?”. Đỉnh đỏ mặt, quát: “Đ. mẹ, tao là Dũng Hà đây!” (Anh Dũng Hà lúc đó là Tổng biên tập Văn nghệ Quân đội”). Nói xong, Đỉnh ngoảy đít bỏ đi. Đó là chất Kỷ Sửu đấy.

Nguyễn Thụy Kha là người đa tài, đa tình và có sức lao động nghệ thuật ghê gớm: Làm thơ, viết văn, viết báo, viết ca khúc, đàn hát, yêu thương, rượu bia suốt ngày. Uống cuộc đời tới chiều tà cạn kiệt/ Ngã đã có đêm nâng. Thế mà còn làm cả giám đốc doanh nghiệp nữa. Anh ở bộ đội thông tin tới 20 năm. Nhắc đến Nguyễn Thụy Kha ai xũng nhớ “Những giọt mưa đồng hành”, bài thơ được giải thưởng báo Văn nghệ 1981-1982: Người lính đi/ Đi qua thành phố/ Bao chân trời thử thách đợi anh/ Trong cuộc hành trình chưa nghỉ/ Mưa và anh là bạn đồng hành. Đến nay anh đã xuất bản 10 tập thơ, 10 tập văn xuôi; nhận Giải thưởng Hội Nhạc sỹ Việt nam 10 năm liên tục từ 1996-2005. Kha không thèm đi xe máy, không thèm dùng vi tính, bất cần mạng, ngày đi uống rượu và đêm về thức cùng trang giấy. Nghe nói vợ Kha là người hay mắng mỏ bọn đàn ông bù khú rượu chè, nên có lần Kha rủ tôi và Nguyễn Trọng Tạo đến nhà anh ở phố Hàng Bông uống rượu. Đến trưa nghe tiếng vợ đi làm về, Kha hốt hoảng: “Hiền về rồi!”. Thế là tôi và Tạo thoắt cái đã biến ra khỏi phòng. Tôi cứ thế xỏ chân trần vào giày xuống phố, quên cả đôi tất ở nhà Kha! Nguyễn Thụy Kha có câu nói rất chí lý về thơ: “Khi anh sống bằng thơ, thơ anh chết ! Chỉ có chết vì thơ, thơ sống muốn đời”.

Trần Mạnh Hảo từng là cậu giúp lễ cho cha xứ vùng Bùi Chu Phát Diệm. Anh vượt Trường Sơn vào chiến trường Nam Bộ từ rất sớm và làm thơ cũng từ rất sớm. Năm 1973 làm phóng viên, biên tập viên báo “Văn Nghệ quân giải phóng”. Anh là người viết rất sung sức, đã xuất bản 15 tập thơ, 5 tập tiểu luận, 4 tiểu thuyết, 3 tập truyện cho thiếu nhi. Là nhà văn duy nhất đã 5 lần được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cho 5 tập sách, gồm 2 tập thơ trường ca, 2 tập thơ, một tập lý luận phê bình. Thơ Trần Mạnh Hảo có nhiều phát hiện sâu sắc như hình tượng “Đất nước hình tia chớp”. Hay mấy câu thơ mà tôi hay nhẩm đọc khi cô độc: “Mặt trời vĩ đại quá/ Hạt sương quá nhỏ nhoi!/ Mặt trời không mang nổi/ Dù một hạt sương rơi/ Nhưng trong giọt sương ấy/ Có bao nhiêu mặt trời ?”. Tháng 6 năm 1975, ngay sau giải phóng tôi đến chỗ Văn nghệ Quân giải phóng ở Sài Gòn để lĩnh nhuận bút bài thơ “Ở rừng nhớ biển” mới gặp anh, Hảo bảo “Mày viết được, viết tiếp đi!”. Và tôi đã viết cho đến giờ. Hảo bộc trực, ngang tính và cực đoan ghê gớm, nhưng anh thông minh, sắc sảo và đa cảm. Đó cũng là một cốt cách đàn ông Kỷ Sửu.

Sau 1975, về sống ở Huế, tôi quen rất nhiều “tài nhân” Kỷ Sửu như Lâm Thị Mỹ Dạ, Mai Văn Hoan, Lê Thị Mây, Hải Kỷ, Hữu Phương, Lê Thái Sơn, Lê Nguyên Ngữ, Đức Ban, Tùng Bách…

Chúng tôi Kỷ Sửu! - ảnh 3
Mai Văn Hoan
Mai Văn Hoan dạy chuyên văn ở Trường Quốc Học Huế, dạy văn giỏi hút hồn học trò, nhưng dạy xong là ngất ngưởng thơ yêu, thơ tặng phái đẹp. Đức Ban nhiều năm là xã viên hợp tác, rồi thanh niên xung phong, viết văn muộn, thế mà đến nay đã có 12 tập truyện ngắn, truyện dài, kịch. Giải thưởng truyện ngắn Báo Văn Nghệ. Gặp tôi lúc nào Đức Ban cũng nằng nặc đòi làm “anh” vì nó sinh đầu năm mà tôi sinh tháng 9. Tôi bảo: “Hơn mấy tháng nhằm nhò gì. Văn xuôi thì cậu làm anh thật, nhưng thơ thì tớ nhất định làm anh cậu, nghe chưa”. Thế là nó cười hề hề.

Nhà thơ Tùng Bách thông minh, chính kiến. Anh làm thơ từ năm 18 tuổi. Thơ Tùng Bách rất sâu sắc, hóm hỉnh. Hồi đang làm văn nghệ Nghệ Tĩnh, nhà thơ Minh Huệ (tác giả bài thơ nổi tiếng: Đêm nay Bác không ngủ)
Chúng tôi Kỷ Sửu! - ảnh 4
Tùng Bách
trong ban thường trực Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh có làm bài thơ về Giên Phôn Đa- minh tinh màn bạc Holiwood (Bà này đã nhiều lần biểu tình phản chiến đòi lính Mỹ tham chiến Việt Nam rút về nước) trong đó có câu: “ Giên Phôn Đa, Giên Phôn Đa/ Chúng lột quần chị ra/ Thấy gì?/ Một trái tim rực lửa,…”. Hôm sau, Trong Hội văn nghệ mọi người truyền khẩu: “Người ta thấy bướm, thấy chim/ Nhà thơ Minh Huệ thấy tim trong quần”. Mấy ngày sau, Tùng Bách bỗng nhiên có trong danh sách bị giảm biên chế; Và cây gỗ Tùng Bách bị trôi dạt đến Vũng Tàu. Khi các nhà văn chơi blog, Tùng Bách thường comment (cảm nhận) bằng những bài thơ ngắn rất độc. Comment vào blog Nguyễn Quang Lập, Tùng Bách viết: Ai đó bảo văn chương Lập tục/ Tôi đọc hoài nỏ thấy tục đâu/ Thấy thế nào Hắn viết thế ấy/ Chả lẽ những sợi mọc trên đầu không thể tóc mà râu !...

Chúng tôi Kỷ Sửu! - ảnh 5
Lê Thị Mây
Lê Thị Mây, khi mới 20 tuổi đã có những câu thơ ám ảnh: Hãy ngủ yên nỗi buồn/ Như con cọp rình mồi tháng chạp/ Ngủ yêu trong lau sậy lòng tôi". Cô gái Thanh niên xung phong nhiều năm trên Trường Sơn ấy đến nay đã xuất bản 20 tác phẩm thơ văn; hai lần được giải thưởng Hội Nhà văn về thơ và văn xuôi (1990,1998). Chị có bài thơ nổi tiếng “Những mùa trăng mong chờ”, theo tôi là một trong những bài thơ hay nhất thời chống Mỹ: Anh khoác balô về/ Ðất trời dồn chật lại/ Em tái nhợt niềm vui/ Như trăng mọc ban ngày
. Nhưng đường tình duyên của chị lại quá nhiều trắc trở. Hồi chị đang ở Huế, chị yêu một người bạn thơ, hai người thắm thiết lắm, đã sắp thành… Nhưng rồi hai người xa nhau khi nào tôi không biết. Buổi trưa đi ngang tôi thấy phòng Mây mở, rẽ vào gửi bài thơ cho Tạp chí Sông Hương. Tôi vồn vã hỏi thăm “chàng trai ấy”. Bỗng dưng Lê Thị Mây mặt tái nhợt, rồi ngất xỉu té nhào khỏi ghế. Tôi đang lúng túng không biết xử trí ra sao thì may có cô Duyên biên tập viên của nhà xuất bản Thuận Hóa vào, tôi nhờ cô ấy đỡ Mây rồi chạy đi tìm nữ bác sĩ Thủy quen biết. Bác sĩ đến khám và bảo tôi: “Chị Mây không việc gì đâu. Uống chút thuốc là đỡ. Anh đi mua cho chị ấy một tô phở nóng”. Đi mua phở nóng mà tôi đoảng, chỉ đưa cái ca-mèn mà quên móc quai xách vào. Tôi đẹp xe ra tiệm phở Nam Sông Hương, mua một tô phở Hà Nội nóng sốt. Chiếc cà-mèn rất nóng, nhưng vì bạn, tôi một tay bưng tô phở, một tay lái xe đạp, cố đi thật nhanh. Đạp về tới nơi, bàn tay trái của tôi chín phỏng, đến cả mấy tuần sau mới lành. Kỷ niệm đó mỗi lần nhớ lại tôi lại cười một mình.

Chúng tôi Kỷ Sửu! - ảnh 6
Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ
Lâm Thị Mỹ Dạ, Hải Kỳ và tôi là ba đứa Kỷ Sửu cùng lớp cấp 3 trường huyện thời nhỏ. Cái lớp ấy có đến 10 đứa đeo đuổi thơ phú cho đến bây giờ. Làm ông nội, bà ngoại cả rồi mà gặp nhau là cứ “mi, tau” rối rít, rồi thơ phú rượu bia chạm ly ngất ngưỡng. Tóc điểm bạc mà hồn còn trẻ nít
(Lâm Thị Mỹ Dạ). Hải Kỳ lục bát điêu luyện, thơ hay lôi cuốn người đọc, say thơ đến mức, quên cả việc ghi tên mình vào cuốn sổ hộ khẩu gia đình. Lâm Thị Mỹ Dạ tài hoa nổi tiếng, trực cảm thơ lâu bền và tinh tế. 23 tuổi đã được giải nhất thơ Báo Văn Nghệ. Năm 2007, chị nhận được giải thưởng Văn học Nghệ thuật Nhà nước, và được bình chọn là người phụ nữa tiêu biểu duy nhất của tỉnh Thừa Thiên- Huế đi dự Đại hội Phụ nữ tiêu biểu toàn quốc. Nhưng số phận chị vất vả, buồn đau và nước mắt cho đến bây giờ. Tuổi học sinh thì không được đi đại học. Em có nỗi buồn như tro/ Hoang lạnh cả một thời thiếu nữ; Hay Em tựa vào em- đơn độc quen rồi .v.v.. Khi lớn lên vừa nuôi con dại vừa đi học Trường Viết văn Nguyễn Du. 11 năm nay chị bận bịu chăm nuôi chồng là nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường bị trọng bệnh nằm một chỗ, cũng là 11 năm nữ thi sĩ xinh đẹp của chúng ta đang hoá thành “kẻ mạnh” để cho chồng “tựa vào”: Nước mắt lặn vào trong cho anh thấy nụ cười/ Bệnh tật lo toan giấu vào đêm trắng/ Giữa tháng ngày trĩu nặng/ Em đứng thẳng người/ Cho anh tựa vào em… Vừa chăm nuôi chồng chị vừa làm thơ, sáng tác ca khúc. Giữa tháng 12-2008, chị cho ra mắt tập thơ Thơ tình Lâm Thị Mỹ Dạ dày 100 trang. Thật là nghị lực !

Nghĩ về tuổi Sửu. Lâm Thị Mỹ Dạ viết:

Trâu ăn bao nhiêu cỏ
Mùa xuân lại dâng đầy
Cám ơn trời che chở
Cho trâu hoài thơ ngây.

Vâng, cám ơn trời đất các nhà văn tuổi Kỷ Sửu chúng tôi vẫn dạt dào cảm xúc sáng tạo, cho dù cuộc sống riêng ai cũng đầy dằn vặt…

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác