Cái kết có hậu của người nửa thế kỷ lĩnh xướng hùng ca

 

(Toquoc)- Sở sĩ tôi nói nhà thơ Tố Hữu “nửa thế kỷ lĩnh xướng hùng ca” vì tính từ năm ông ra nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản (1936) đến khi ông rời chính trường (1986), vừa tròn nửa thế kỷ. Còn sau đấy dường như mọi việc đã khác. Tố Hữu không chỉ là người sớm giác ngộ cách mạng, mà còn là người đến với thơ ca cách mạng từ độ tuổi “bẻ gãy sừng trâu” (năm 1937).

Từ ấy” là tập thơ đầu tay của chàng trai xứ Huế này, gồm 71 bài được chia làm 3 phần tương ứng với ba giai đoạn lịch sử: Máu lửa (27 bài), Xiềng xích (30 bài) và Giải phóng (14 bài), như một bộ phim phóng sự tài liệu 3 tập bằng thơ, ghi lại một thời kỳ lịch sử cách mạng của dân tộc Việt Nam, qua cái nhìn của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi Tố Hữu, kể từ ngày ông gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản, 1936. Lần xuất bản đầu tiên, năm 1946 tập thơ có tên là “Thơ”, đến lần xuất bản thứ hai, năm 1959, ông sửa chữa, bổ sung và đổi tên tập thơ thành “Từ ấy”.  

Nhà nghiên cứu văn học Đặng Thai Mai nhận định: “Từ ấy” là tiếng nói cáo trạng nhân danh phẩm giá của con người lao khổ; nhân danh chủ nghĩa nhân đạo để chống với một chế độ tàn bạo; nhân danh cái đẹp của thiên nhiên và của nghệ thuật, của chân lý và của công lý để phản kháng với cái xấu, cái giả dối; nhân danh cái mới để chống lại cái lạc hậu. Đó cũng là bản quyết tâm thư của một chiến sĩ cách mạng không do dự trước nhiệm vụ, khó khăn, lao tù, súng gươm và sự tra tấn của kẻ thù, không tuyệt vọng trên những bước đường thử thách đau đớn nhất. Về phương diện nghệ thuật, “Từ ấy” trở thành một trong những thành tựu của văn học cách mạng Việt Nam. Tố Hữu đã kết hợp được giữa nghệ thuật và cách mạng, giữa người chiến sĩ và thi sĩ, góp phần vào tiến trình đổi mới thi ca hiện đại Việt Nam”.

Như vậy, ngay từ những ngày đầu cầm bút, Tố Hữu luôn ý thức và xác định rằng phải hát vang bản hùng ca cách mạng trong thơ. Hai tư cách chiến sĩ cộng sản và thi sĩ cách mạng trong ông luôn quện chặt làm một với nhau tròn một nửa thế kỷ. Ông quan niệm về thơ ca cách mạng khá rõ: “Muốn có thơ hay, trước hết, phải tạo lấy tình. Nhà thơ chân chính phải không ngừng phấn đấu, tu dưỡng về lập trường tư tưởng; xác định thật rõ ràng tầm nhìn, cách nhìn. Tự nguyện gắn bó chân thành là yêu cầu cao nhất đối với người nghệ sĩ trong quan hệ với đất nước, với nhân dân. Ngoài ra, các nhà thơ Cách mạng còn phải kiên quyết đấu tranh, không khoan nhượng trước những biểu hiện lệch lạc, với cái xấu, cái ác. Tóm lại, viết thơ phải xứng đáng là người chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng”.

Ở một góc nhìn khác, nếu không có cách mạng thì cũng không có nhà thơ Tố Hữu. Người chiến sĩ cộng sản là cái gốc, còn thơ ca cách mạng chỉ là những giây phút “xao lòng” của người chiến sĩ ấy. Càng về sau, thơ ông càng tỏ rõ là công cụ, là vũ khí tuyên truyền trong đấu tranh cách mạng. Với Tố Hữu không có nhà thơ đứng ngoài người chiến sĩ cộng sản. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, cũng là hoạt động nghệ thuật của mình, Tố Hữu đã xuất bản các tập thơ: “Từ ấy” (1946), “Việt Bắc” (1954), “Gió lộng”  (1961), “Ra trận” (1962-1971), “Máu và Hoa”  (1977), “Một tiếng đờn” (1992), “Ta với ta” (1999). Năm tập thơ đầu gắn chặt với quá trình hoạt động cách mạng của ông, còn 2 tập cuối, là sự nếm trải vui, buồn của cá nhân với tư cách là một con người.  

Năm tập thơ đầu, ông luôn là người lĩnh xướng của dòng thơ ca cách mạng với tư cách là một thi sĩ. Còn với tư cách người chiến sĩ cách mạng, ông lại là người chỉ huy của giàn hợp xướng thơ ca ấy. Với cả hai tư cách, tiếng nói của ông trên chính trường cũng như trên thi trường đều có ảnh hưởng lớn và mang tính quyết định đối với dòng thơ ca cách mạng trong diễn trình thơ ca Việt Nam hiện đại.

Nhưng cũng có một thực tế khác không thể phủ nhận được là với hai tập “Một tiếng đờn” “Ta với ta”, vào những năm tháng cuối đời, thơ Tố Hữu không còn là hiện tượng thơ trong sự đồng vọng của nhiều tầng lớp công chúng, vốn là việc thường xuyên diễn ra đối với các tập thơ trước của ông suốt nửa thế kỷ.

Có thể thấy khá rõ, sau khi rời nhiệm sở, Tố Hữu cũng thôi luôn vai trò người lĩnh xướng và chỉ huy giàn hợp ca cách mạng, mà ông từng nắm giữ nửa thế kỷ. Chính ông tự ý thức được điều ấy, nên đã kịp chuyển sang tư thế của người hát đơn ca. Vâng, đơn ca có nghiã là hát một mình với “Một tiếng đờn”. Thậm chí sau này ông còn là người hát “độc ca”, tự đối diện với chính mình và chỉ hát cho mình nghe “Ta với ta”.

Hăm hở tự buộc mình với nhân quần, nguyện làm anh, làm con, làm em nhưng không phải của một người cụ thể nào, mà là với tất cả:

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải khắp muôn nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Tôi đã là con của vạn nhà

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ...

(Từ ấy)

Để rồi những năm tháng cuối đời, ông tự nhận ra mình ở một chiều kích khác, khi mà cuộc sống hôm nay nói chung và nhất là thi ca không còn thích hợp cho những bản hùng ca thuở nào. Theo đó, cũng không cần người lĩnh xướng cho giàn đồng ca ấy nữa, nơi đã đưa ông tới tột đỉnh của vinh quang. Cuộc sống dựng xây đất nước hôm nay trong xu thế hội nhập và phát triên, nó cần nhiều hơn sự “tự lĩnh xướng” cho chính mình, thay vì lĩnh xướng cho mọi người, theo kiểu đi theo phong trào của những năm tháng đánh giặc.

Giọng thơ chùng xuống, đầy suy tư, trăn trở về lẽ đời, lòng người, về sự hữu hạn của thời gian là nét nổi bật của thơ Tố Hữu ở hai tập thơ cuối cùng, trong tư cách con người cá nhân hơn là tư cách người chiến sĩ cách mạng trước đây:

Mới bình minh đó đã hoàng hôn

Đang nụ cười tươi bỗng lệ tuôn

Đời thường sớm nắng chiều mưa vậy

Khuấy động lòng ta biết mấy buồn

/.../

Có khổ đau nào đau khổ hơn

Trái tim tự xát muối cô đơn

Em ơi, nghe đó... Trong đêm lạnh

Đằm thắm bên em, một tiếng đờn.

(Một tiếng đờn, 1992).

Đấy là một thực tế không thể chối cãi được.

Cái kết có hậu của người nửa thế kỷ lĩnh xướng hùng ca - ảnh 1
Nhà thơ Tố Hữu và vợ, bà Vũ Thị Thanh

Thế hệ chúng tôi, nhiều người sau khi đi đánh Mỹ về rồi mới vào đại học, nên tâm lý, sức nóng của cuộc chiến ấy vẫn như còn hầm hập đâu đó, hắt lên tâm khảm mỗi người, nên dù muốn tạm gác lại cuộc chiến phía sau lưng, với những chiến công lẫy lừng, những hy sinh, gian khổ ngày nào… để tập trung vào công việc trước mắt là học tập, cũng không dễ chút nào. Âm vang của những vần thơ, áng văn chương thời chống Mỹ cứ dội vào tâm trí của những người chân ướt chân ráo mới từ mặt trận trở về như chúng tôi.

Còn nhớ, khóa chúng tôi vào trường mới học xong học kỳ I, năm thứ Nhất, khoa Ngữ- Văn, đại học Tổng hợp Hà Nội, thì được tin Giải phóng miền Nam. Chúng tôi và dường như cả dân tộc như vỡ òa trong niềm vui chiến thắng. Những giọt nước mắt tự dưng cứ tuôn trào, cả nước mắt vui lẫn những giọt buồn.

Được thể, sang đến học kỳ II của năm học ấy, các thầy dạy lịch sử văn học Việt Nam hiện đại và lý luận văn học dường như buổi nào cũng nhắc đến dòng thơ ca chống Mỹ cưu nước, mà tiêu biểu là các bậc “thi thánh” như: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật… vì họ là những lá cờ đầu của phong trào thơ ca thời kỳ ấy. Mặc dù có những tiết học chẳng liên quan gì đến “tam trụ” kia, nhưng cứ vòng vo thế nào, cuối cùng các thầy lại vẫn nhắc đến những tên tuổi ấy và dẫn ra những câu thơ của họ, như những cột mốc cắm vào nhận thức chung của cả thời đại, bất di bất dịch.

Của đáng tội, thời ấy, ngoài thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật và một vài người khá nữa, còn có thơ nào để đọc và để học. Đọc mãi thành ngấm, ngấm thành say, say thành mê, nhất là thơ Tố Hữu sao mà mê thế, mê như nhập đồng chứ chẳng chơi. Nào là “Bài ca mùa xuân 61”, “Hãy nhớ lấy lời tôi”, “Người con gái Việt Nam”, “Mẹ Suốt”… cứ như có ma nhập vào người ấy. Mê thật sự! Đúng là “Lá cờ đầu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam”. Và tất nhiên là trong những cuộc thi thơ toàn quốc khi ấy, giải nhất bao giờ cũng thuộc về nhà thơ Tố Hữu.

*

Thế mà, kể cũng lạ, sau khoảng chục năm gì đấy, khi Tố Hữu không còn tham chính nữa, thì thơ ông dần ít người đọc, thậm chí ngay trong giới văn chương,  cũng không mấy khi nhắc đến, trừ một số trường hợp đặc biệt. Chẳng hạn như năm 2012, trong dịp Hội Nhà văn tổ chức tưởng niệm 10 năm ngày mất của nhà thơ Tố Hữu, cũng có nhiều người nhắc đến, tuy mỗi người nhắc theo cách của mình.

Mặc dù ai cũng biết Tố Hữu có hơn một nửa thế kỷ không chỉ hát hùng ca, mà cả tráng ca nữa. Không chỉ hát mà còn lĩnh xướng, rồi chỉ huy luôn cả dàn hợp ca cách mạng từ giữa những năm 30 đến giữa những năm 80. Nhưng dù sao cũng phải thấy rằng thứ văn thơ hô hào thời đánh giặc cũng dần đã lắng xuống nhường chỗ cho những dòng thơ ca khác. Tôi sinh ra và lớn lên thời chống Mỹ, nên thuộc nhiều câu, bài thơ của Tố Hữu. Thuộc vì mấy lẽ, thế hệ tôi dường như ai cũng thuộc một vài câu, bài thơ nào đấy của các nhà thơ như Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên hay Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Bằng Việt… là lẽ thường tình. Vì cách đây chừng 40-50 năm về trước, ngoài thơ của mấy ông ấy ra còn có thơ nào nữa để học và để đọc đâu. Cả dân tộc hát đồng ca về đánh giặc, hát đồng ca về hợp tác hóa nông nghiệp, hát đồng ca về về chống hủ hóa… bằng văn chương, thơ phú. Tôi chỉ là một cá nhân trong giàn đồng ca ấy, mà họ là những người lĩnh xướng, không hát theo sao được.

Thứ nữa, thời chúng tôi bị các thầy nhồi nhét ghê quá, vì còn kiểm tra trả nợ môn, rồi khóa luận, luận văn, lúc nào cũng thơ ca chống Mỹ. Tóm lại là ăn thơ ca chống Mỹ cứu nước, ngủ văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, thở chống hủ hóa hoặc ăn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, ngủ chống hủ hóa và thở thơ ca chống Mỹ cứu nước.

Với Tố Hữu, không ai có quyền phủ nhận công lao và thành quả của ông về cả hai phương diện nhà hoạt động chính trị và nhà thơ lớn trong diễn trình văn chương cách mạng. Nhưng ông cũng là một con người, bằng xương, bằng thịt hẳn hoi, sao người ta cứ bắt ông phải trở thành thánh sống. Để rồi đến một lúc nào đấy, chính ông cũng cảm thấy mình là thánh thật. Như thế chỉ làm khổ ông, nhất là những năm tháng cuối đời. Bên cạnh một Tố Hữu lẫy lừng văn chương nửa thế kỷ chiến đấu, hy sinh cho cách mạng, còn có một Tố Hữu âm thầm cô đơn, nhiều khi chỉ hát một mình. Dù vậy, với tập thơ “Một tiếng đờn”, ông đã nhận được Giải thưởng Văn học ASEAN của Thái Lan năm 1996. Và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Nghệ thuật, đợt I, năm 1996 cho các tập thơ và tiểu luận: 1. Từ ấy (1946); 2. Việt Bắc; 3. Gió lộng (1961); 4. Ra trận (1972); 5. Máu và hoa (1977); 6. Một tiếng đờn (1992); 7. Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng với nhân dân ta - thời đại ta (tiểu luận, 1973); 8. Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (tiểu luận, 1981)./.

  Đỗ Ngọc Yên

Nhà thơ Tố Hữu

Tên thật là Nguyễn Kim Thành

Sinh ngày 4/10/1920 tại làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên- Huế

Nhà thơ Tố Hữu là một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ ca cách mạng Việt Nam. Sự nghiệp thơ ca của ông đã được khẳng định qua các giải thưởng cao quý trong nước và quốc tế. Ông là người có nhiều thơ được sử dụng giảng dạy trong nhà trường, từ bậc học phổ thông đến đại học.

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu
Cao Tung

Tác giả còn bỏ xót những vần thơ tuyệt tác của đại thi hào Tố Hữu như: Thương biết mấy nghe con học nói... Xem thêm

Tin khác