Cách mạng, trăng và thơ

Chuẩn bị cho năm du lịch quốc gia - Thái Nguyên 2007 với chủ đề: Về Thủ đô gió ngàn - chiến khu Việt Bắc, cuối tháng 10 - 2006 tôi về Thái Nguyên viết kịch bản phim theo chủ đề này.

Trước lúc đi giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin Nguyễn Thị Lệ Thu bảo tôi: “Anh lên Khau Tý phải ở lâu lâu, đó là nơi Bác Hồ làm bài thơ Cảnh khuya đấy”. Ồ Cảnh khuya ư?

Được biết Bác Hồ sáng tác bài thơ này tại chiến khu Việt Bắc, nhưng sáng tác khi nào, sáng tác ở đâu thì ít người biết cụ thể, ngay cả nhà thơ Nguyễn Trung Thu vì chưa hiểu xuất xứ của bài thơ nên đã viết: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa/ Mà ngỡ như rừng Pác Bó, suối về đây ngân nga” (Bài thơ: Đêm Trường Sơn nhớ Bác, Trần Chung phổ nhạc). Tôi có cái thú riêng là thích lần tìm xuất xứ những bài thơ của Bác Hồ tận ngọn nguồn để giới thiệu với bạn đọc. Mấy năm qua tôi đã nhiều lần leo lên đỉnh núi cao ở vùng Lũng Dẻ (xã Minh Tâm - Cao Bằng), tìm nơi Bác “chống gậy lên non xem trận địa” trong trận đánh đồn Đông Khê (cũng là nơi tạo cảm hứng cho Bác viết bài thơ Đăng Sơn). Tôi cũng đã đi dọc theo tuyến đường tù đầy của người tù Hồ Chí Minh năm 1942 -1943 trên đất Trung Hoa rộng lớn tìm xuất xứ từng bài thơ trong Nhật kí trong tù… Và lần này, tôi không phải đi tìm mà được dẫn tới nơi được xác định là Bác đã sáng tác bài Cảnh khuya! thế thì chẳng may mắn và hạnh phúc lắm sao.

Có sự định hướng trước như thế nên suốt chặng đường về Định Hoá tôi luôn nghĩ về bài thơ Cảnh khuya. Những hình ảnh trăng sao, cây cổ thụ, hoa lá, suối trong… cứ chập chờn theo dòng suy tưởng. Cách mạng, trăng và thơ luôn đồng hành trong cuộc đời của lãnh tụ cách mạng, nhà thơ Hồ Chí Minh. Hình ảnh trăng đã xuất hiện ở nhiều bài thơ trong Nhật kí trong tù (Ngắm trăng, Trung thu, Giải đi sớm, Đêm lạnh, Cảnh thu, Đêm thu…). Trong những “Bài thơ chiến khu” của Bác Hồ, trăng cũng không ít lần xuất hiện (Cảnh khuya, Rằm tháng giêng, Tin thắng trận…). Đó là điều rất đặc biệt, bởi vì trong những bài “thơ trăng” đó không phải được viết trong khi đi thưởng ngoạn, đi du lịch nhàn tản, vô vi… mà thường được viết ra trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, khốn cùng, đen tối. Trăng như làm sáng lên những khoảng tối, những bước đường gian truân trong đời. Càng đọc những bài thơ Trăng của nhà thơ Hồ Chí Minh càng thấy chất người cộng sản, chất thơ hoà quyện trong một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Người như hoà nhập vào thời cuộc, hoàn cảnh lại như đứng trên hoàn cảnh, thời cuộc để suy ngẫm, xuất xử một cách linh diệu…

Xe đang chạy êm, bỗng chậm dần và đỗ lại bên đường. “Đến rồi”, tiếng cô hướng dẫn viên kéo tôi trở về thực tại. Chúng tôi xuống xe, đi bộ theo con đường đất dẫn vào đồi Khau Tý. Con đường quanh co nhưng ít dốc, cây cỏ xanh tươi, không khí trong lành và cảm giác hồi hộp, muốn đến ngay ngôi đền thi ca linh thiêng dường như làm con đường ngắn lại. Leo thêm một đoạn dốc ngắn là đến đỉnh đồi. Đặt chân lên nền lán Bác Hồ đã từng ở, ngước nhìn cây đa cổ thụ cao to, xum xuê cành lá, sáng lấp loá, quả rụng đầy dưới chân, xung quanh có đầy cây trám to, đặc biệt là cây dâm bụt Bác trồng từ năm 1947, gần 60 năm rồi vẫn xanh tươi (ở lán Tỉn Keo, Bác cũng trồng một cây dâm bụt, một loài cây, loài hoa gần gũi, thân thiết với Người). Trong tĩnh lặng, tiếng suối trong như chợt vọng về từ xa! Không phải “chợt như” nữa mà là thực đấy! Ngay dưới chân đồi Khau Tý dòng suối Nà Tra chảy róc rách, róc rách, lặng lẽ:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Vẫn biết “cảnh vẽ” trong thơ không thể thực như một bức hình chụp mà mang tính ước lệ, nhiều khi chỉ là tưởng tượng, nhưng cảnh trong bài Cảnh khuya so với cảnh trên đồi Khau Tý thực từ tiếng suối trong, cây cổ thụ, hoa cỏ và cả… trăng nữa! Cái cảnh thực ấy qua con mắt của nhà thơ đã đẹp lên thành một bức tranh tuyệt mỹ, sinh động.

Theo hồi ký của các đồng chí sống gần Bác Hồ ở Khau Tý thì Bác viết bài Cảnh khuya vào cuối thu năm 1947. Ngày 20-5-1947, Bác Hồ từ Sơn Dương (Tuyên Quang) sang Định Hoá đến thôn Điềm Mặc, xã Thanh Định, lúc đầu Bác ở nhà ông Ma Đình Tương. Chủ tịch xã ở Bản Quyên, sau đó Bác chuyển lên ở lán trên đỉnh đồi Khau Tý. Đồi Khau Tý, tiếng đại phương gọi là đồi cây thị. Lán dựng theo kiểu nhà sàn của đồng bào dân tộc Định Hoá, rộng ba mét, dài bốn mét, sàn lát ván, mái lợp lá cọ, vách bưng bằng liếp nứa. Ông Ma Đình Khánh, người Bản Quyên, năm nay đã 84 tuổi là một trong chín du kích xã được cử vào đội dựng lán khi xưa đã kịp lên đỉnh đồi kể lại tỉ mỉ việc dựng lán cho chúng tôi nghe. Ngày 20-5-1947 được lấy làm ngày Bác Hồ và Trung ương Đảng đến An toàn khu, lập thủ đô kháng chiến lãnh đạo toàn dân chống xâm lược. Tại đây Bác làm việc từ cuối tháng 5 đến 15-10-1947, Người đã viết tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc, soạn tài liệu tổng kết chiến tranh du kích ở Trung Quốc, viết thư cho nhân dân Pháp kêu gọi ủng hộ nhân dân Việt Nam, lên án tội ác của thực dân Pháp và khẳng định quyết tâm kháng chiến và sự tất thắng của nhân dân Việt Nam. Đặc biệt Người và thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: “Phải phá tan cuộc tấn công mùa Đông lên Việt Bắc của thực dân Pháp". Trở lại những tháng cuối năm 1947, khi ấy thực dân Pháp tập trung binh lực, cho quân nhảy dù xuống Bắc Cạn, chợ Mới, đồng thời đưa 2 binh đoàn, ngược sông Lô, tiến chiếm Thị xã Tuyên Quang, tạo thế gọng kìm hòng bao vây, tiêu diệt lực lượng của chủ lực của ta, "bắt sống" Chính phủ kháng chiến. Trong tình thế cực kỳ nguy nan đó, tưởng như tất cả thời gian, tất cả tinh lực đều tập trung cho cuộc chiến, còn đâu thời gian dành cho trăng và thơ nữa. Thế mà vẫn có đấy. Bài thơ Cảnh khuya ra đời vào thời điểm "rất nóng" lúc bấy giờ đã cho thấy cái ung dung tự tại, sự bình thản của Chủ tịch, Nhà thơ Hồ Chí Minh:

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ.

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Vậy thôi, không một chút căng thẳng dù "nỗi nước nhà" lúc ấy đang cực kỳ “ nguy nan”. Có lo đấy nhưng là lo liệu, trù tính chứ không chút lo lắng, hốt hoảng. Xét bài thơ tại thời điểm ra đời mới thấy hết phong vị thơ, tâm hồn thơ và con người thơ của Bác. Bình thản đến kỳ diệu chất thơ dồi dào, trong sáng đến lạ thường:

Bác Hồ đó, ung dung châm lửa hút

Trán mênh mông, thanh thản một vùng trời

                                                    (Sáng tháng năm- Tố Hữu)

Bình thản đạt đến độ thanh thản đó là cốt cách của ông tiên, cốt cách lãnh tụ, nhà thơ Hồ Chí Minh.

Tôi đã ở lâu trên đồi Khau Tý, trong nắng, gió lặng nghe tiếng suối, ngước nhìn cây đa cổ thụ và những khoảng trời xanh lộ ra sau vòm lá. Cảnh sắc nơi đây đưa hồn tôi trở về những đêm thu năm 1947, Bác Hồ ngồi lặng phắc giữa đêm khuya, đối diện đàm tâm với trăng sao, cây cỏ hoa lá. Sáu mươi năm rồi, quá khứ, hiện tại đan dệt. Trong mối liên tưởng đa chiều chợt dâng ước muốn nho nhỏ- giá chi dựng ở đây một tấm bia đề bài thơ Cảnh khuya của Bác Hồ, làm gần lại khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực và mơ, để du khách đến đây sẽ không chỉ được thăm nơi đầu tiên Bác ở khi trở lại chiến khu Việt Bắc mà còn thăm nơi ở của nhà thơ Hồ Chí Minh, nơi nhà thơ sáng tác bài Cảnh khuya, trong hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt, thả hồn ngẫm ngợi trong sự hoà quyện giữa sử và thơ. Sáng trong và linh thiêng . . .

Trở về thành phố Thái Nguyên tôi đem niềm ước muốn nho nhỏ ấy “khổ lộ” với ông Nguyễn Bắc Sơn, uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ trong buổi đàm đạo kéo dài gần ba tiếng đồng hồ về lịch sử, về văn hoá - nghệ thuật, về công việc chuẩn bị cho năm du lịch quốc gia - Thái Nguyên 2007… Ông đồng cảm và ủng hộ ngay "sáng kiến" của tôi, ông rất thật lòng: "Đấy không chỉ là trách nhiệm mà cón là tình yêu và sự trân trọng những giá tri lịch sử, văn học - nghệ thuật trên vùng đất An toàn khu - Thủ đô gió ngàn, Thủ đô kháng chiến - nơi Bác Hồ và Trung ương Đảng lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến: Chín năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Đêm xuống, trong căn phòng nhỏ của Bí thư Tỉnh uỷ chợt nghe tiếng vọng của lịch sử và những vần thơ của Bác:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa . . .

Ngày 1 tháng 12 năm 2006

HOÀNG QUẢNG UYÊN

(Văn nghệ)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác