Bùi Ngọc Tấn, người cầm bút đầy bản lĩnh


(Toquoc)- Yêu văn chương, cầm bút sớm rồi gác bút hơn hai mươi năm, thế rồi lại âm thầm viết trở lại. Không những thế còn viết khoẻ, viết hay, vượt xa những tác phẩm “thuở ban đầu”… đó là trường hợp của nhà văn Bùi Ngọc Tấn.


Displaying bui ngoc tan.jpg

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn


Nhà văn Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại đất Cảng. Cùng lớn lên với mốc thời gian này, ông được chứng kiến những thăng trầm của lịch sử, từ chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ cho đến ngày đất nước thống nhất khắc phục hậu quả chiến tranh, trên đường đổi mới…

Bùi Ngọc Tấn đến với văn chương khá sớm. Từ khi còn nhỏ, vốn là người yêu văn chương, lại có năng khiếu, ông đã chủ động tìm đến những tác phẩm văn học dân gian và các tác giả nổi tiếng. Ông từng kể: “Năm 1947 Thủy Nguyên (Hải Phòng - quê ông) bị quân Pháp chiếm đóng, tôi theo bố mẹ tôi tản cư lên Bắc Giang, Thái Nguyên và tiếp tục học văn hóa. Tôi học giỏi: Thi tiểu học, đỗ đầu liên khu Việt Bắc. Phần thưởng là một chiếc cặp da do thầy Hoàng Ngọc Phách, nhà tiểu thuyết đầu tiên ở nước ta, tác giả Tố Tâm, giám đốc sở Giáo dục Liên khu tặng”.

Tuổi 20, Bùi Ngọc Tấn đã bắt đầu cầm bút viết văn. Cũng năm đó, ông tham gia thanh niên xung phong. Song hành với con đường viết văn là ngòi bút báo chí. Hai năm sau, ông đã có tập truyện ngắn in chung. Và thêm một năm nữa, ông đã sở hữu một tập sách đứng tên riêng, đó là tập truyện ngắn Mùa cưới in năm 1957. Nên nhớ rằng, cách đây gần sáu mươi năm, để có một tác phẩm được công bố là hiếm hoi và sáng giá như thế nào, chứ không như bây giờ, khi việc công bố, in ấn vô cùng thuận lợi, dễ dàng. Vậy mà, mới 23 tuổi Bùi Ngọc Tấn đã có một cuốn sách in chung và một cuốn sách in riêng cũng thật đáng nể. Ông đều đặn viết và cho ra đời khá liên tiếp các tập truyện, có thể kể đến các phẩm đã xuất bản như: Người gác đèn biển (truyện ký, 1962), Đêm tháng Mười (truyện ngắn, 1962), Nhật ký xi măng (truyện ngắn 1963).

Cuối thập kỷ sáu mươi thế kỷ trước, vì những biến cố trong cuộc đời, ông đã dừng công việc viết văn. Tưởng chừng ông đã rẽ sang một hướng khác khi trải qua các nghề chẳng dính dáng gì đến văn chương, thậm chí thô sơ, phần nhiều dựa vào sức cơ bắp như: Thợ sắt, kéo xe bò, bốc vác... Sau giải phóng miền Nam, con đường mưu sinh của Bùi Ngọc Tấn đỡ cơ cực hơn khi ông được nhận vào làm nhân viên văn phòng Quốc Doanh đánh cá Hạ Long.

Thế rồi, như một định mệnh, không cưỡng lại được, sau hơn hai mươi năm dừng bút, Bùi Ngọc Tấn lại tiếp tục đi trên con đường văn chương dang dở. Động lực chính để ông cầm bút là những người bạn thân. Họ giục ông viết, động viên ông viết và chờ đợi cuốn sách mới của ông ra mắt. Một kỷ niệm vô cùng cảm động ông từng chia sẻ với báo điện tử Tổ Quốc, đó là trong số những người bạn thân thì Hứa Văn Định hay giục ông viết trở lại hơn cả. Nhưng đến khi cuốn sách “trở lại” với tên gọi Một thời để mất vừa đến tay Bùi Ngọc Tấn, ông mang sách đến tặng Hứa Văn Định thì bạn đã trở về cát bụi cách đó vài tiếng đồng hồ. Không còn cách nào khác, lúc đưa tiễn bạn về nơi an nghỉ cuối cùng, Bùi Ngọc Tấn chỉ lặng lẽ đốt cuốn sách mới dành tặng bạn trên nấm mồ vừa mới đắp xong.

Sau Một thời để mất, ra đời năm 1995 cho đế nay, ông liên tiếp ra sách và giành giải thưởng lớn bé trong, ngoài nước. Mặc dù sự trở lại con đường viết văn của ông còn những gập ghềnh nhưng số phận của tác phẩm thì thật kỳ lạ, nó vẫn âm thầm sống, âm thầm khẳng định giá trị và được độc giả đón nhận. Có lần ông nói: “Tác phẩm tâm đắc nhất của tôi không nằm trong số được trao giải thưởng”. Một cách chia sẻ đầy ẩn ý. Có thể Bùi Ngọc Tấn khiêm tốn, cho rằng tác phẩm vĩ đại nhất, có giá trị nhất của mình vẫn còn đang viết dở, vẫn còn ở phía trước. Cũng có thể, ông chưa thật hài lòng với giải thưởng văn chương hiện nay.

Nói đến nhà văn Bùi Ngọc Tấn, một trong số những tác phẩm độc giả nhớ ngay đến không thể không kể tới là: Người chăn kiến. Truyện có dung lượng chữ không nhiều, nhưng chi tiết đắt, dồn dập, ám ảnh… Truyện ngắn này được ra đời với mục đích tham dự giải thưởng truyện mi ni ở một tạp chí. Nhưng số phận của Người chăn kiến không lọt qua vòng… gửi xe đạp! - tức là không được đăng chứ đừng nói đến giải thưởng. Vậy mà, sau đó Người chăn kiến vẫn vượt qua tất cả để được độc giả đón nhận và ghi nhận, vượt qua cả những tác phẩm dự thi được giải cao.

Khi nhìn lại con đường viết văn của mình, ông tự phân định thành hai giai đoạn khá rõ rệt. Giai đoạn một từ khi cầm bút năm 1954 đến năm 1968. Giai đoạn hai từ năm 1990 đến nay. Đánh giá về giai đoạn một, Bùi Ngọc Tấn thẳng thắn thừa nhận “sáng tác của tôi thuộc dòng tụng ca” và “không có gì để nói, nếu có chỉ là một sự xấu hổ hồn nhiên”. Suy nghĩ này của nhà văn Bùi Ngọc Tấn khiến độc giả nhớ đến trường hợp nhà thơ Trần Nhuận Minh, trong cuốn Đối thoại văn chương, nhà thơ đất Mỏ đã xin bỏ đi toàn bộ sáng tác giai đoạn đầu của mình. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn khác nhà thơ Trần Nhuận Minh ở chỗ, ông không vứt bỏ, chỉ là thừa nhận sự kém cỏi của giai đoạn mới cầm bút để thay đổi, để viết khác.

Nhà văn Khuất Quang Thuỵ trong cuốn Câu chuyện văn chương từng cho rằng, có rất nhiều nhà văn khi mới cầm bút, tưởng chừng những tác phẩm đầu tay là non nớt, yếu kém. Thế nhưng hoá ra không phải, khi nhìn lại một chặng đường dài cầm bút mới nhận ra, chưa chắc kinh nghiệm, sự dày dặn đã khiến những tác phẩm về sau viết hay hơn. Vậy thì cũng ngược lại, văn chương không phải là câu chuyện tuyệt đối với tất cả mọi người. Có muôn vàn con đường khác nhau, có muôn vàn giai đoạn khác nhau, cách thức khác nhau để đi trên nó. Xét cho cùng, bản thân mỗi giai đoạn khác nhau không có lỗi, không đáng trách, bởi trong bối cảnh đó con người nghĩ thế, quan niệm thế, thậm chí có nhu cầu đọc như thế. Chỉ đến khi nhìn lại, đọc lại chúng ta mới nhìn ra sự thay đổi. Còn có thay đổi được nữa hay không do nhu cầu, do tài năng, do bối cảnh xã hội tác động đến.

Các nhân vật trong sáng tác giai đoạn hai của Bùi Ngọc Tấn luôn khiến người đọc day dứt về thân phận con người trong những hoàn cảnh khác nhau. Họ có tên có tuổi nhưng không xuất hiện đơn lẻ, dường như tên tuổi của họ nhoà đi, bị lẫn vào lớp người của thời ấy, trở thành những “mẫu số chung” với lớp người cùng thời. Có thể tìm thấy họ trong Biển và chim bói cá. Cái  xấu, xu nịnh, mưu mô… “dàn hàng” ở bất cứ nơi đâu. Những con người cùng cực phải bon chen, quẫy đạp mà cứ dò dẫm, loay hoay. Hình ảnh Biển được Bùi Ngọc Tấn đề cập trong tác phẩm không chỉ dừng lại ở nghĩa đen về biển thực với đại dương mênh mông mà còn là biển đời. Mênh mông, sâu thẳm, nhiều của ngon vật lạ, nhiều cơ hội đổi đời nhưng cũng đầy giông bão ập tới bất cứ lúc nào. Không có chuyến “ra khơi” nào dễ dàng cả. Trong Biển và chim bói cá, ông đã tái hiện một giai đoạn đất nước đã qua đầy sinh động, sâu cay về giấc mơ đổi đời của những kẻ thấp cổ bé họng khi đặt chân đến đất nước Mặt trời mọc chấp nhận làm kẻ hèn mọn hỉ hả khi kiếm được “món hời” trong bãi rác, tranh nhau xí chỗ mua để mong khuôn càng nhiều đồ cũ về tàu càng tốt…

Người chăn kiến, độc giả lại chứng kiến những thói quen hoàn toàn vô thức đã ăn sâu vào con người từ hoàn cảnh sống này đến hoàn cảnh sống khác khiến họ không thể hoà nhập được với thực tại.

Con người trong tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn không phán xét. Ông đưa ra những chi tiết, miêu tả hành động, suy nghĩ của họ để từ đó người đọc tự nhìn thấy rõ con người đấy như thế nào. Với lối viết không phá cách, nhưng tự nhiên, cuốn hút nhân vật của ông sống động, chân thực, dễ đồng cảm. Độc giả vừa bắt gặp “cái tôi”, cái thân phận đơn lẻ của chính bản thân ông lại vừa thấy được một cái tôi bứt khỏi mình, rộng lớn hơn. Tác phẩm không “ca tụng” một chiều như các sáng tác giai đoạn đầu mà đã đi sâu vào bản thể con người để bóc tách, để nhìn thấy cái phức tạp và đa chiều. Có không ít người khi quan tâm đến sáng tác và con người của nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã đặt câu hỏi; liệu hơn hai mươi năm bỏ bút của ông có phải là uổng phí? Hay đó là quãng thời gian cho ông những chất liệu quý giá từ cuộc sống để chuẩn bị cho cuộc “lột xác” văn chương sau này? Giả sử Bùi Ngọc Tấn giống như bao nhà văn khác, cứ đi trên con đường văn chương liền mạch từ ngày đầu đến giờ thì sẽ ra sao?. Ai cũng muốn một sự bằng phẳng. Nhưng với nhà văn, điều kiện này chưa đủ, họ còn phải có bản lĩnh văn chương và nhiều thứ khác. Đáng mừng là Bùi Ngọc Tấn ít nhất còn có được bản lĩnh của người cầm bút.

Kể từ khi quay lại viết văn đến nay, nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã có nhiều tác phẩm ghi dấu trong lòng bạn đọc. Đó là phần thưởng tinh thần lớn nhất mà ông nhận được từ văn chương. Và văn chương dẫu có “đáng sợ”  khiến ông bỏ rồi lại quay lại, dẫu có nghiệt ngã vất vả thế nào thì ông vẫn cứ lặng lẽ đi trên con đường đó. Bởi đi là được giãi bày, được sống thực với con người của mình.

Hà Anh

(Ảnh Internet)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác