Bàn Tài Đoàn – Người giữ hồn dân tộc trong thơ


(Toquoc)- Nhà thơ Bàn Tài Đoàn tên thật là Bàn Tài Tuyên, người dân tộc Dao. Ông sinh ngày 28 tháng 9 năm 1913 tại xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Ông mất ngày 17 tháng 11 năm 2007 tại xã Yasô, huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1942. Sau năm 1945, công tác tại phòng tuyên truyền Cục chính trị Bộ Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ năm 1951 đến khi nghỉ hưu ông đã từng giữ các chức vụ như: Phó giám đốc Sở Văn hoá; Phó chủ tịch Hội văn nghệ Việt Bắc; Uỷ viên Mặt trận Tổ quốc Trung ương; Uỷ viên Ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam; Uỷ viên Hội đồng văn học các dân tộc thiểu số. Ông được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất; được Bộ Lâm nghiệp tặng giải thưởng viết về trồng rừng, bảo vệ rừng. Năm 2001, ông nhận giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1.

Do từ nhỏ đã sớm được làm quen và tiếp xúc với chữ nôm Dao nên trong hầu hết các sáng tác của Bàn Tài Đoàn chúng ta thấy ông đều sáng tác bằng chữ nôm Dao. Đến năm 1942 khi tham gia Cách mạng ông mới được học chữ Quốc ngữ. Mặc dù, biết chữ Quốc ngữ nhưng trong những sáng tác của mình ông vẫn sử dụng chữ nôm Dao, chỉ những bài thơ được dùng vào mục đích tuyên truyền hoặc in báo cho tất cả mọi người cùng đọc thì ông mới dịch những bài thơ đó ra chữ Quốc ngữ. Tại sao lại như vây? Có lẽ ông luôn muốn những tác phẩm của mình viết ra để phục vụ đồng bào mình và muốn người Dao đọc, hiểu những tâm sự ông gửi gắm tới đồng bào trong thơ.

Trong suốt cuộc đời làm thơ của mình, ông đã xuất bản được 13 tập thơ đó là: Muối của cụ Hồ (1960), Xuân về trên núi (1963), Có mắt thấy đường đi (1962), Một giấc mơ (1964), Kể chuyện đời (1968), Tháng Tám đổi mới (1971), Rừng xanh (1973), Sáng cả hai miền (1975), Gửi đồng bào Dao (1979), Nơi ta ở (1979), Bước đường tôi đi (1985), Tìm bạn rừng (1990), Bó đuốc sáng (2002). Có những tập thơ đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc như: Muối cụ Hồ (1960) Kể chuyện đời (1967) Tháng Tám đổi mới (1971).

Trong tất cả các sáng tác thơ của nhà thơ Bàn Tài Đoàn chúng ta đều có thể nhận thấy có hai mảng thơ lớn được ông tập trung thể hiện đó là: những bài thơ viết về cuộc đời hoạt động cách mạng gắn bó với những miền đất, gương mặt, cuộc đời mà nhà thơ đã từng đi qua, đã từng gắn bó gần gũi. Là những cảm xúc trước một cuộc đời mới, trước sự thay đổi về cách sống, cách cảm cách nghĩ của người Dao mà cách mạng và Bác Hồ đã đem đến cho bản thân ông nói riêng và người Dao nói chung, tiêu biểu là những bài thơ: Muối cụ Hồ, Khuổi Sao, Từ rừng Trần Hưng Đạo, Gặp đồng chí Văn

Mảng thơ thứ hai đó là những bài thơ viết theo thể trường ca, ông đã vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo thể thơ cổ phong (thể thơ 7 chữ) cổ truyền của dân tộc trong các sáng tác của mình để phổ biến một cách nhẹ nhàng những vấn đề mang tính thời sự hoặc nói về cuộc đời của mình, cuộc đời của các vị lãnh tụ kính yêu như Lênin, Hồ Chí Minh qua một số bài tiêu biểu trong tập thơ Đường sáng, tập thơ Kể chuyện đời. Theo nhà thơ Nông Quốc Chấn thì đây “là thể thơ vừa hiện thực vừa trữ tình, thể thơ không gò bó, từng đoạn bốn câu, mỗi câu bẩy chữ có vần bằng hoặc vần trắc ở cuối câu thứ nhất, câu thứ hai và câu thứ tư”. Có thể nói đây là thể thơ thể hiện thế mạnh của nhà thơ Bàn Tài Đoàn, ông đã vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào hai tập thơ Đường sángKể chuyện đời.

Chúng ta thấy, trong 13 tập thơ của ông mỗi tập thơ thể hiện một nội dung riêng nhưng trong tất cả những tập thơ đó người đọc đều có thể nhận thấy rõ một điều đó là: Bản sắc văn hoá dân tộc Dao được thể hiện vô cùng cụ thể, sinh động trong toàn bộ sáng tác của ông, từ nội dung thơ đến ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ; đến cách cảm, cách nghĩ, cách diễn đạt trong thơ đặc biệt là ở hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống con người, những phong tục tập quán của người Dao trong thơ ông.


 Bàn Tài Đoàn – Người giữ hồn dân tộc trong thơ - ảnh 1
Nhà thơ Bàn Tài Đoàn (ảnh Thời báo Ngân hàng)
 

Hình ảnh thiên nhiên, cuộc sống, con người miền núi trong thơ Bàn Tài Đoàn

Sinh ra và lớn lên tại mảnh đất Nguyên Bình - Cao Bằng, nên thiên nhiên miền núi cao vời, xanh thẳm nơi quê hương ông vừa là môi trường sinh sống, vừa là người bạn tâm tình, vừa là nguồn cảm hứng vô tận cho ông sáng tác. Trong các bài thơ của ông - chúng ta bắt gặp rất nhiều những hình ảnh của rừng núi, thiên nhiên, với những cánh rừng xanh biếc, những dãy núi đá nhọn chọc trời nơi quê hương ông:

Đất châu Nguyên Bình bao la rộng

Ruộng đồng thì ít, núi nhiều thay

Phía nam núi đất, rừng xanh biếc

Phía bắc đá nhọn chọc trời mây

            (Phai Khắt, Nà Ngần)

Với ông, quê hương luôn là một phần máu thịt rất quan trọng, bởi vậy sáng tác của ông luôn có một cái nhìn yêu thương, đầy cảm xúc đối với từng ngọn núi, dòng suối, viên đá, từng bông hoa, ngọn măng… với những mặt trời, mặt trăng với tiếng chim thánh thót, tiếng gà gáy vang vọng nơi rừng xanh… Với ông - tất cả đều là bạn, là người thân - nên thiên nhiên trong thơ ông như có tâm hồn, có tình, có nghĩa với con người. Đây là hình ảnh của con suối Khuổi Sao hiền lành, đầy tôm cá, bao đời gắn bó thân thiết với đời sống của cộng đồng dân tộc Dao quê hương ông:

Fáy xúi Khuổi Sao mài pé doảng

Nhiều cháy dạ mài khia dạ mài

Chì tào mài to màu xà xấu

Khung xiếu cong pin thính xúi tài

Dịch thơ: “Con suối Khuổi Sao có nhiều thứ/ Cá lội tìm rêu, tôm múa theo/ Đá to đá nhỏ ngồi bên suối/ Sớm chiều nghe suối chảy reo vui” (Khuổi Sao)

Và đây là tiếng hát của núi rừng khi mỗi độ xuân về: Hoa Kim Anh nở rộ khoe sắc, măng trúc, măng vầu cũng cựa mình vút lên khỏi mặt đất… tất cả như báo hiệu một mùa xuân tươi đẹp, hạnh phúc, no ấm đang đến với những người dân vùng cao:

Núi rừng nghe lời ca tiếng hát

Xuân về nở rộ hoa kim - anh

Măng vầu, măng trúc cùng cao vút

Như giáo, như gươm giữ rừng xanh

(Suối LêNin, núi Các Mác)

Hoà vào sắc xuân còn có âm thanh của những tiếng chim rừng “hót bản đồng ca”, tiếng gà rừng, tiếng thì thầm của cỏ cây:

Sên tào dự mài tsì câu gái

Chiên chây mài to khố bạn tình

Sên đía chây mài sên đía bạn

Tsuất muồn tu thính bạn tsuôi sinh

Dịch thơ:

Trên núi lại con gà gô gáy

Thật là rừng xanh có bạn nhiều

Trên rừng ta có nhiều bạn lắm

Bước ra đường là nghe bạn vui

(Chim rừng là bạn tình)

Dưới ngòi bút của ông thiên nhiên hiện ra thật tươi đẹp, rực rỡ và thơ mộng:

Mặt trời mọc đỏ lên đằng đông

Mặt trời mọc lên soi khắp chốn

(Gà gáy)

Sáng nay mặt trời mọc lên sớm/ …/

Muôn loài đều thấy lòng vui sướng

(Chim bay thấy)

Ông yêu thiên nhiên với một tình yêu máu thịt, chính vì thế ông đã vô cùng đau xót khi chứng kiến cảnh cây rừng bị chặt phá mà nguyên nhân chính là do lối sống du canh, du cư của chính cộng đồng dân tộc ông. Cũng bởi núi rừng, chim chóc, muông thú như là những người thân của ông nhưng giờ đây tất cả đã rời xa ông nên ông đau đớn, xót xa như mất đi những gì thân yêu nhất:

Fây nẩy phủi tài chiên hom hấu

Sấy miền phúi náng tỏi ô fun

Dộm tsấy tú mài hioang kiaa tóng

Kín miền ngoa ố hạn mâu dùn

Dịch thơ:

Trèo lên núi nhìn không thấy

Lên tiếng gọi to chẳng thấy thưa

Không nghe tiếng bạn đáp lời lại

Chỉ nghe gió thổi tiếng vi vu.

(Trên núi vẫn là nơi ta ở)

Không chỉ đau đớn, xót xa mà nhà thơ còn lên án, phê phán gay gắt những con người đã làm rừng “biến mất”. Ông cất tiếng gọi thiết tha: “Rừng ơi, rừng chạy đi đâu nhỉ/ Rừng xanh không cánh cũng biết bay/ Không chân mà rừng cũng biết chạy…”(Tìm bạn rừng); ông mong muốn rừng sẽ trở về cùng chung sống vui vẻ, thân thiết với người Dao như xưa: “Rừng ơi hãy về thương ta với/ Cùng ta chung sống xanh trên núi” (Tìm bạn rừng)…

Bên cạnh một tình yêu thiên nhiên tha thiết ông còn luôn tự hào về cuộc sống, con người miền núi nơi quê hương ông. Trong thơ Bàn Tài Đoàn con người miền núi nói chung và những người dân tộc Dao nói riêng luôn có một tâm hồn vui tươi, hồn nhiên, trong trẻo, họ yêu thương, đùm bọc lẫn nhau trong cuộc sống thường ngày: “Nhớ đến làng xưa những bạn thân/ …/ Nhớ đến trong làng chị em bạn/ Ngồi bên nhà thêu áo màu chàm” (Nhớ làng xưa); họ luôn sống chân thật, thuỷ chung với nước non, với quê hương, với bạn bè: “Người Dao nghèo khổ mà hiên ngang/ …/ Dũng cảm, yêu thương, lòng chân thật/ Thuỷ chung với bạn, với nước non !” (Cái gì đẹp nhất). Trong cuộc sống gia đình họ luôn yêu thương, kính trọng, biết ơn sâu sắc đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ và rất có hiếu lễ: “Cháu ngoan, quấn quýt lớn lên mau/ Ông bà vui nghe đàn cháu hát” (Xuân về). Đây cũng là một nét đẹp trong đời sống tình cảm gia đình của người Dao mà ngày nay con cháu người Dao vẫn rất cần học tập để gìn giữ nét đẹp văn hoá đó trong các gia đình, dòng tộc của mình.

Trong thơ ông những hình ảnh nổi bật, làm xúc động lòng người là hình ảnh người mẹ, người vợ, người bạn, người đồng chí… Ví dụ như: Khi nước nhà độc lập nhìn lên tấm huân chương do nhà nước tặng cho mình ông đã rưng rưng nhớ đến mẹ: “Một tấm huân chương đeo trước ngực/ Con nhớ ơn mẹ nhớ đồng bào” (Báo tin mừng cho mẹ); và nhớ đến công lao của người vợ đã “một nắng hai sương” lo lắng gia đình để ông yên tâm làm cách mạng: “Mấy chục năm trời cùng xa cách/ Để nàng khác chống cái gia đình” (Nhớ nàng đi xa); đồng thời nhớ đến công sức lớn lao của những người đồng chí đã dìu dắt ông đến với cách mạng, đến với con đường thơ: “Đồng chí tình thân như ruột thịt/ Dìu dắt tôi đi bước đường thơ” (Gặp đồng chí Văn), “Đoàn với Chấn và Chấn với Đoàn/ Hai người bạn tình nặng ngàn cân/ Người ở xa nhau cách sông núi/ Tấm lòng thì ở cạnh bên gần” (Thơ tặng anh Nông Quốc Chấn). Chính vì tình sâu nghĩa nặng như vậy nên hình ảnh những con người thân yêu đó cứ luôn trở đi, trở lại trong thơ ông như một hình ảnh đầy sức ám ảnh trong quá trình làm thơ của ông.

Là một nhà thơ miền núi sống qua hai chế độ, ông thấu hiểu một cách sâu sắc nỗi khổ cực, nhục nhã của đồng bào các dân tộc thiểu số (trong đó có dân tộc Dao). Dưới chế độ thực dân phong kiến, người dân phải chịu bao nỗi khổ cực do thiên tai, do chiến tranh, do sự bóc lột tàn ác của bọn phong kiến thực dân: “Vua đổ vua lên cũng gọi vua/ Rước voi dẫm nát tổ trong mồ/ Phu phen thuế má dân nai chịu/ Giặc dã, thiên tai dân tự lo. (Hai mươi lăm năm); Mưa hoà gió thuận còn tạm đủ/ Gặp năm hạn hán đói bơ vơ (Trùm Xấy Cấu).

Không chỉ dừng ở đó, ông còn thể hiện lòng biết ơn sâu sắc với Bác Hồ, người đã đưa ánh sáng của Đảng tới xua tan màn đêm đen tối, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, giúp người dân có cơm ăn, áo mặc, có muối… cho đồng bào các dân tộc, trong đó có dân tộc Dao của ông: “Người Dao gặp cách mạng vui mừng/ Đời được đổi mới trăm thứ đủ (Đời có Hồ Chí Minh); “Bác Hồ là cha già dân tộc/ Suốt đời lo nghĩ cho nhân dân/ Lo cơm, lo áo, lo nhà ở/ Lo đời người Dao được sướng hơn” ( Bác Hồ ở mãi trong lòng ta); “Từ khi cán bộ cụ Hồ đến/ Có hàng bán muối tha hồ chọn/ Có hàng bán vải đỏ vải xanh/ Cụ Hồ mang áo về, dân mặc/ Cụ Hồ đem muối về, dân ăn” (Muối của cụ Hồ)

Có thể nói đọc thơ ông người đọc như thấy được cách cảm, cách nghĩ, ngôn ngữ thể hiện rất riêng của nhà thơ người dân tộc Dao đích thực.

 

Những phong tục tập quán của người Dao - Niềm tự hào và nỗi lòng đau đáu của người con dân tộc Dao Bàn Tài Đoàn

Được đắm mình trong đời sống văn hoá, tinh thần của dân tộc mình nên bản sắc văn hóa dân tộc Dao là nguồn mạch chảy trong các sáng tác của ông. Bản sắc ấy được thể hiện cụ thể, sinh động trong các nghi lễ văn hoá truyền thống vào dịp lễ, tết như: Tục lệ khâu áo mới cho ông bà, tục hát páo dung, tục nhảy lửa trong tết nhảy…; trong các nghi lễ đám cưới, cấp sắc, đám ma:

Chúng cháu rủ nhau khâu áo quần

Trời rét, ông bà có dịp diện

(Khâu áo cho ông bà)

Văn chương cũng học được một ít

Không có pháp danh đành chịu theo.

(Cuộc đời sao khổ thế)

Ba năm khuất nguyện phải bồi hoàn

Thăng chức qua rồi muốn làm chay

Làm được ma chay người ngợi khen

(Làm ma bị nghèo khổ)

Thông qua những nét đẹp trong phong tục tập quán đó tác giả muốn khẳng định một điều rằng: dân tộc Dao vốn là một dân tộc có truyền thống văn hoá lâu đời, có chữ viết, có ngôn ngữ và nhiều phong tục tập quán riêng.

Là một người Dao ông luôn tự hào về những phong tục, tập quán nhưng cũng luôn day dứt, trăn trở về những hủ tục lạc hậu của dân tộc mình. Bởi chính những hủ tục đó đã là một nguyên nhân lớn dẫn đến cuộc sống nghèo đói, khổ cực của người Dao từ xưa cho tới nay, ví dụ như: Trong tục cưới xin nhà thơ đã kêu gọi đồng bào hãy từ bỏ hủ tục thách cưới nặng, ép gả để người Dao có được một cuộc sống thực sự hạnh phúc:

Lệ làng bạc trắng mấy chục lạng

Rượu thịt mấy gánh đè lên đầu.

(Đêm không ngủ)

Rượu tan vợ chồng đeo nặng nợ

Bao nhiêu vui sướng biến nghèo nàn

Có người bố mẹ qua đời hết

Nợ vẫn còn dây con cháu đeo

(Lấy vợ gả chồng)

Tập tục du canh, du cư cũng là một trong những nguyên nhân gây nên đói nghèo, đau khổ để rồi: “Đã trải qua bao đời ta cực khổ/ Chặt gốc, ăn ngọn, sống du cư/ Mưa hoà gió thuận còn tạm đủ/ Gặp năm hạn hán đói bơ vơ” (Trên núi vẫn là nơi ta ở); “Làng xóm không nơi nào ổn định/ Bốn phương trời: nay ở, mai đi(Trên núi vẫn là nơi ta ở). Ông đã kêu gọi người Dao hãy thực hiện chính sách định canh định cư do chính phủ đề ra để có được một cuộc sống bình yên, no ấm: “Ngày nay Đảng, chính phủ khuyên bảo/ Người Dao cần định cư định canh” (Trên núi vẫn là nơi ta ở); “Chính phủ đề ra nhiều chính sách/ Người Dao nghe bảo nhau yên lòng/ Định cư định canh theo kế hoạch” (Bước đường tôi đi)

Tệ nạn mê tín dị đoan xuất phát từ sự thiếu hiểu biết cũng là một nguyên nhân nữa gây nên bao đau khổ cho người Dao. Nhà thơ đã nhận ra tính chất tiêu cực của hủ tục này nên ông đã lên án, phê phán và khuyên bảo mọi người hãy loại bỏ hủ tục đó ra khỏi đời sống để cuộc sống được tốt đẹp hơn: “Quỉ thần không phải là chân thật/ Vì rằng không ai nhìn thấy ma… Chỉ nghe lời nói ông thầy bói/ Ông thầy cũng chẳng nhìn thấy ma/ Bói bừa, bói láo cho ta sợ/ Không cúng thì sợ ma không tha” (Cùng bạn trò chuyện)

Ngoài những phong tục, tập quán cổ hủ, lạc hậu đè nặng lên cuộc sống thì thuốc phiện cũng là nguyên nhân khiến cuộc sống của đồng bào Dao rơi vào cảnh nhà tan, cửa nát. Nhà thơ đã chỉ rõ cho người Dao thấy tác hại của thuốc phiện và kêu gọi mọi người hãy tránh xa nó. Bởi nó chính là “giặc khói” phá hoại cuộc sống hạnh phúc của người Dao: “Xin đừng mó! Xin đừng mó!/ Mó phải nó dính vào người khó cởi/ Làm cho con nhỏ, vợ hiền khổ thân/ Xưa nay thuốc phiện vẫn là giặc khói” (Ngọn đèn thiêu hết cơ nghiệp).

Qua hủ tục, nạn “giặc khói” nhà thơ muốn cộng đồng dân tộc Dao hiểu rõ nếu không loại bỏ những cái đó ra khỏi cuộc sống thì người Dao sẽ mãi sống trong đói nghèo, lạc hậu.

Là một người luôn tha thiết, tự hào với các vẻ đẹp của thiên nhiên, phong tục tập quán riêng của dân tộc mình, đồng thời cũng là người thấu hiểu bao nỗi khổ cực, vất vả mà nguyên nhân chính là do sự bóc lột tàn ác của bọn thực dân phong kiến, do các hủ tục lạc hậu, do thiên tai… Nên ông đã dùng những vần thơ dựa trên làn điệu “ Páo dung” để tuyên truyền, đấu tranh loại bỏ hẳn những hủ tục đó để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, tươi sáng hơn cho cộng đồng dân tộc Dao. Chính vì vậy, chúng ta có thể khẳng định thơ Bàn Tài Đoàn là tiếng nói tâm hồn đích thực của người Dao.

Có thể nói Bàn Tài Đoàn là người có công lớn trong việc đặt nền móng cho thơ ca dân tộc Dao thời kỳ hiện đại nói riêng và văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung. Sau này, đã có khá nhiều người Dao làm thơ nhưng có lẽ chưa có một người Dao nào viết nhiều và nói nhiều những phong tục tập quán cũng như ca ngợi cách mạng ca ngợi Đảng Bác Hồ như ông. Với những đóng góp đáng trân trọng như vậy ông xứng đáng là một “cây cao bóng cả” trong nền thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.

Bàn Thị Quỳnh Giao

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác