Anh Vũ - Nhà thơ của đất nung

Có một nhà thơ đã từng lang bạt khắp nơi, giờ về giam mình trong vườn tượng nơi thôn dã. Người ta bảo ông là thi sĩ của đất nung. Ông chỉ cười, cái cười thể hiện một người chẳng còn can dự gì đến thế giới bên ngoài. Nhưng từng động thái nhỏ của cuộc sống đều được ông nhìn bằng con mắt của một người rất hiểu nhân tình thế thái. Đó là nhà thơ Anh Vũ.

Anh Vũ - Nhà thơ của đất nung - ảnh 1
Nhà thơ Anh Vũ (ảnh Vietimes)



















Tôi quen nhà thơ Anh Vũ đã lâu, được anh em ở Hội Văn học nghệ thuật Bắc Giang gọi là “quái kiệt” vì cách sống của ông có gì đó kỳ bí, khó hiểu. Lần nào đến gặp ông, nhà thơ cũng tiếp đón bằng rượu trắng. Bất kể khách xa hay gần, nếu ở lâu thì có thể dùng bữa. Còn không, đến chớp nhoáng vài ba tiếng rồi cáo biệt, là được mời cụng ly rượu trắng cao độ đến bỏng cổ. Ông ăn nói xuề xòa, chân chất, giống như một già làng ở bản làng xa xôi nào đó. Nhưng khi tiếp xúc, sẽ thấy kiến thức uyên thâm của một người trải đời, tự học và đọc rất nhiều. Anh Vũ tên thật là Vũ Công Ứng, sinh năm 1943 ở làng Sặt cổ nổi tiếng xưa thuộc huyện Từ Sơn (Hà Bắc cũ). Sau bao nhiêu năm tháng chuyển chỗ ở, giờ ông định cư nơi xóm nhỏ Tân Mới, xã Tân Dĩ, Lạng Giang, Bắc Giang. Xung quang nhà ông là cánh đồng, nơi diễn ra những công việc của nhà nông. Ông bảo mình sinh ra từ làng quê, nên cái văn hóa làng quê “ngấm” vào. Cho đến giờ, ông vẫn sống với những điều gần gũi, giản dị đó. Đó là đất nung, vườn tượng, cánh đồng và thơ.

Do chiến tranh nhà thơ phải chuyển nhiều nơi sống trong địa hạt tỉnh Bắc Giang. Mỗi một lần chuyển nơi ở, ông đều mang theo cây khế nhỏ đi trồng. Bởi làng Sặt quê ông xưa nổi tiếng là “làng khế ngọt”. Gia đình nào cũng có ít nhất vài cây khế, nhà nào nhiều có cả vườn. Ông nói: “Tôi mang cái hồn làng tôi theo, để luôn nhớ về cái gốc gác làng mình. Dù biết rằng, đất nào cũng là quê hương, cũng là ‘chùm khế ngọt’ cả. Nhưng nhớ về quê tôi thường nao lòng. Tiếc là ‘làng khế ngọt’ đã không còn được như xưa”.

Những năm tháng dạy học, có thời gian ông được điều về dạy học ở trường giáo dưỡng Kim Đồng (xã Phương Sơn - Lục Lam). Đây thực chất là trường dành cho trẻ em hư, khó đào tạo. Nơi đây, ông gặp nhà văn Trần Hoài Dương, người cả đời viết cho thiếu nhi, đến với văn học thiếu nhi như đến với một thứ Đạo. Từ đó gây cảm hứng cho Anh Vũ viết về thiếu nhi, cho thiếu nhi vì vốn sống thu nhận được từ đây khá nhiều. Và từ năm 1970 đến 1974 ông đã có 2 tập truyện dành cho thiếu nhi đó là Khói đất Vườn trên cửa sổ. Ông dạy ở Trường giáo dưỡng ấy rất tốt, lũ học trò hư, nghịch ngợm rất nghe lời ông, nên đến năm 1972, ông muốn chuyển sang Ty văn hóa Hà Bắc thì trường giữ lại. Họ bảo nếu ông đi thì ông sẽ bị cắt sổ gạo. Nhưng ông vẫn quyết định đi. Sau này, chính ông cũng không rõ sao lúc đó ông lại quyết định như vậy.

Sang bảo tàng, là lúc tình yêu với đất nung trỗi dậy trong ông. Do ông được tiếp xúc với tượng, với nghê đá, với những linh vật dân gian. Điều đó thắp lên khao khát sáng tạo. Vợ ông thời gian đó không khỏi buồn vì thấy môn nghệ thuật nào chồng mình cũng muốn “đá đấm” một tí. Rồi sẽ chẳng tới đâu. Nhưng đó là tính khí của ông, bản chất con người ông. Có khuyên can cũng không được. Cuối cùng bà cũng ủng hộ niềm đam mê của chồng. Những ngày nhàn hạ, ông cùng nhà điêu khắc Lê Ngọc Liên trao đổi kinh nghiệm, cùng nặn đất, làm tượng. Tượng làm ra ông không bán, chỉ để chơi và tặng bạn bè. Ở phủ Thành Chương có rất nhiều tượng của Anh Vũ góp mặt. Giờ về hưu, mọi gian khó của cuộc đời đã trải qua. Sáu người con của ông bà đã thành đạt. Nhà thơ Anh Vũ cho phép mình sống ẩn dật, gần gũi với vườn tượng, với đất nung. Khu vườn của ông là một thế giới vừa thực vừa ảo. Phần nhiều các nhân vật bước ra từ cổ tích, từ truyện dân gian hay các nhân vật trong văn học. Tượng được ông nặn ở rất nhiều tư thế, có người cúi, người ngồi, người đăm chiêu suy nghĩ, có người lại nghễu nghện khoe thân. Hoặc những cái cười trào tiếu, với đường nét thô sơ giản dị trên gương mặt của nhân vật mà đầy ý niệm. Lại có sự xuất hiện của một anh Chí Phèo ngồi uống rượu, khoe cái nghèo cái khổ của một thời...

Giờ đây Anh Vũ dành tất cả sự chăm chút cho vườn tượng. Những bức tượng lớn nhỏ đều mang hơi thở của văn hóa đồng bằng Bắc bộ, đẫm chất dân gian Kinh Bắc. Toàn bộ đều được ông nặn bằng tay, với nguyên liệu là đất. Trong khu vườn đó, ông đặt cả một lò nung nhỏ để tự mình theo dõi và nung lấy. Nhà thơ Anh Vũ nhiều đêm nằm mơ, thấy những bức tượng đất nung như vừa bước ra từ cổ tích, nói cười rôm rả. Lại có hôm mơ thấy mình say khướt cùng bức tượng anh Chí Phèo vẫn cười hềnh hệch ngoài kia. Lại có đêm ông mơ thấy mình say ngất ngư cùng anh Xuân tóc đỏ rồi thấy mình sao mà buồn. Trên thế gian có biết bao người đẹp, ông cũng có những bức tượng đá khoả thân, nhưng chẳng bao giờ được mơ thấy, được uống rượu cùng họ, say cùng họ mà chỉ mơ thấy những người xấu xí. Cũng có lần, sau chuyến đi xa, trở về nhà ông nằm mơ thấy một hình bóng giai nhân nào đó vừa chợt gặp nhưng cũng đủ làm lòng xao xuyến, rồi sinh thơ: “Em khép kín/ Cá tính riêng vùng non nước/ Buồn nỗi gương soi đẹp cùng ai/ Ngày đêm rỗng trời/ Về đâu cơn bấc cơn nồm thổi mãi...”

Anh Vũ có 6 người con, 3 trai 3 gái, trong đó có người xuất sắc như con cả Vũ Thị Thư học giỏi nổi tiếng một thời, từng vẽ 3000 bức tranh. Cô con gái thứ ba là Vũ Thị Thanh, học ở Nga hiện công tác tại Quảng Ngãi, cũng là người viết văn và từng đoạt giải thưởng. Cùng với người vợ đảm đang, chịu thương chịu khó, ông bà đã nuôi nấng các con nên người, thành đạt. Khi con cái thành đạt rồi, ông mới thảnh thơi gắn mình với tượng đất, thơ, rượu và họa. Ở góc vườn của ông cũng có những bức tượng tên lửa của anh con trai Công Thiện, học Đại học Mỹ thuật Yết Kiêu làm. Công Thiện cũng có niềm đam mê với đất nung, thi thoảng vẫn “hiến” cho bố những ý tưởng.

Với Anh Vũ, văn thơ không chỉ là nghề mà còn là nghiệp. Nghiệp văn còn là cuộc chơi không dễ dàng gì, vì mình phải vượt lên chính mình. Và với ông, mọi thứ vẫn còn ở phía trước. Là nhà thơ, nghệ sĩ, không phải nói nhiều, chẳng phải đòi hỏi gì nhiều ở cuộc sống này. Tất cả cái tài, cái tâm sẽ hiện ở tác phẩm, ở trang sách. Câu nói của ông “Đời tôi sau này may ra còn một hạt cát, một cơn gió nhẹ” giống như một triết lý mơ hồ. Rượu mềm môi và thi thoảng thơ lại vút lên, xen lẫn những câu chuyện về thời thế, về tượng và về đất. Anh Vũ với mái tóc xõa ngang vai, thi thoảng “ông già đất” lại cười phớ lớ.

Nguyễn Văn Học

 

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác