Anh Chi qua những miền trầm tích

Có một hiện tượng khá phổ biến trong văn học là nhiều nhà văn nhà thơ trong quá trình sáng tác, thi thoảng lại rẽ ngang rẽ dọc, viết phê bình, tiểu luận, giới thiệu tác phẩm của bạn bè hoặc có khi hăng máu còn lao vào các cuộc tranh biện nảy lửa về những vấn đề mang tính học thuật, không chỉ làm cho không khí văn đàn thêm sôi động mà còn góp phần đáng kể vào sự phát triển văn học.

Anh Chi qua những miền trầm tích - ảnh 1Nhà thơ Anh Chi là một trong số người như vậy. Anh không chỉ là một thi sĩ tài hoa mà còn là người có kiến văn sắc sảo trong lĩnh vực phê bình, khảo cứu. Ngoài những tập thơ từng nhận nhiều giải thưởng, anh còn cho xuất bản một số cuốn sách thuộc thể loại này, trong đó tiêu biểu là những cuốn: Văn phẩm Quỳnh Giao, Tiểu thuyết thứ năm (2 tập), Bảy người hiền và ba việc cũ, Đường đời đường văn, được giới nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá cao.

Mới đây khi đến chơi nhà, tôi được biết Anh Chi đang ráo riết sưu tầm tài liệu để viết về nhà văn nhà báo Lê Tràng Kiều, người có công lớn trong việc gây dựng và phát triển văn học giai đoạn 1930 - 1945, đặc biệt là phong trào Thơ Mới. Anh Chi đang rất say sưa với việc này, thấy tôi đến liền giữ dịt, nói thao thao suốt mấy tiếng đồng hồ không nghỉ. Câu chuyện xoay quanh mấy trường phái văn chương thời ấy, những mâu thuẫn và đồng nhất giữa trường phái Tự lực văn đoàn do Khái Hưng, Nhất Linh đứng đầu và trường phái Văn chương bình dân do Lê Tràng Kiều làm chủ soái. Anh nhắc đến những cái tên mà với bạn đọc thông thường hôm nay, đã trở nên xa lạ như Vũ Trọng Can, Phạm Văn Kỳ, Lê Thanh, Phạm Huy Thái, Nguyễn Văn Thư, Phạm Cao Củng, Đàm Quang Thiện, Bùi Nguyên Cát... Anh kể rằng để phục vụ cho công trình nghiên cứu của mình, anh đã phải lục tìm những tư liệu ở đâu, gặp những ai để xác nhận thông tin đó. Tôi chăm chú nghe rồi quay sang hỏi anh về công việc sáng tác ra sao. Thấy anh ngần ngừ, tôi bắt nọn:

- Thế ông định bỏ thơ à?   

- Không, sao lại bỏ? Chỉ là tạm dừng thôi.

- Người ta bảo khi nhà văn đã chuyển sang viết phê bình có nghĩa là sự nghiệp sáng tác của anh ta đã cáo chung rồi đấy!

- Bậy! Không có chuyện đó đâu. Tôi vẫn làm thơ, vẫn viết đều đấy chứ. Chỉ có điều đây là việc tôi đang thích, và đó cũng là việc cần làm.

- Vậy ông đọc thử cho tôi bài thơ mới viết xem.

- Đọc thật chứ sao lại thử? Được rồi, tôi sẽ đọc ông nghe bài thơ mới nhất của tôi.

Và Anh Chi bắt đầu đọc thơ. Tôi ngồi nghe, khẽ gật đầu.

- Phải thế chứ!

- Nghe được không?

- Được. Khá là đằng khác! Vẫn giữ được phong độ Anh Chi ngày nào.

- Xin nói với ông rằng, trước hết và sau hết, tôi vẫn là một nhà thơ, chung thủy với thơ, nặng nợ với thơ. Không có thơ, không biết đến giờ cuộc đời mình vẫn còn đang ở xó xỉnh nào! Điều đó chắc ông biết rõ?

Cũng như tôi, Anh Chi Xuất thân công nhân, vừa làm thợ vừa sáng tác. Hai chúng tôi thuộc lớp nhà văn xuất hiện vào cuối thời chống Mỹ, tức là khoảng những năm đầu thập kỷ bảy mươi thế kỷ hai mươi. Lúc bấy giờ, theo một hệ qui chiếu nào đó, văn chương viết về người lao động, nhất là người lao động trong guồng máy công nghiệp, trở thành dòng chủ lưu của cả nền văn học nước nhà. Phong trào văn học công nhân vì thế, đã được người ta hết sức ưu ái và phát triển một cách tưng bừng, như một rừng hoa tuy chỉ có một màu nhưng “nở rộ một cách huyênh hoang” (Chữ của M.Gooki) hoặc như một dàn đồng ca dù chỉ hát một bè nhưng vô cùng đông đảo, trong đó có những gương mặt nổi trội thủ vai lĩnh xướng và đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của phần đông khán giả, văn thì có Lý Biên Cương, Tô Ngọc Hiến, Sĩ Hồng, Hoàng Văn Lương, Nguyễn Sơn Hà, Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Lưu Nghiệp Quỳnh, Trần Tự, Nguyễn Đức Huệ, Vũ Hữu Ái, Đặng Ái, Lê Hoài Nam, Tùng Điển, Văn Chinh, Nam Ninh, Đoàn Trúc Quỳnh, Phạm Ngọc Chiểu, Đỗ Bảo Châu, Đỗ Thị Hiền Hòa... Thơ thì có Yên Đức, Anh Chi, Thanh Tùng, Đào Cảng, Thi Hoàng, Đào Ngọc Vĩnh, Lý Phương Liên, Trần Nhuận Minh, Tùng Linh, Hoàng Việt Hằng, Nguyễn Thị Đạo Tĩnh, Phạm Ngà, Phạm Doanh, Long Chiểu... Tất cả những người này đều được Hội Nhà văn hết sức nâng đỡ, xem như lực lượng nòng cốt của văn học trẻ lúc bấy giờ, tác phẩm của họ liên tiếp được giới thiệu trên báo Văn Nghệ qua lăng kính các nhà biên tập hết sức tinh tường và chí tình chí thiết đối với anh em, đó là các nhà văn nhà thơ Trần Hoài Dương, Nguyễn thị Ngọc Tú, Xuân Quỳnh, Nguyễn Phan Hách, Ngô Văn Phú, Ngô Ngọc Bội... lúc đó đều tập trung ở tòa soạn báo.

Cũng vì cái duyên ấy mà tôi và Anh Chi biết nhau khá sớm. Năm 1977, chúng tôi đã gặp nhau trong một trại sáng tác tổ chức tại Quảng Bá. Gọi là trại sáng tác cho oai chứ thực ra nó vẫn là một lớp Bồi dưỡng những người viết trẻ của Hội Nhà văn, tiền thân của trường viết văn Nguyễn Du bây giờ, chỉ có điều đây là khóa học cuối cùng và nó được diễn ra theo một phương thức khác, các khóa trước thì nghe giảng xong rồi đi viết, lần này thì vừa viết vừa nghe giảng, thế thôi. Hiệu trưởng vẫn là thày Sanh (tức nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh), cứ cách vài ba hôm thày Sanh lại đưa một hai thày đang làm việc trên Hội nhà văn xuống truyền kinh nghiệm sáng tác cho anh em trẻ.
Có thể nói, Anh Chi ngay từ khi bắt đầu cầm bút đã ý thức một cách khá đầy đủ về nghề văn và do đó, đã thoát khỏi bản năng rất sớm để tạo ra cho mình một cách nhìn riêng, một lối đi riêng, luôn có ý thức lật xới những tầng vỉa mới, thăm dò khám phá những miền trầm tích chưa ai đặt chân, cho dù chưa hẳn đã vượt thoát khỏi dòng chảy chính của văn chương thời đó song chí ít cũng tạo nên một giọng điệu khác người. Có lẽ vì thế, ngay khi trình làng chùm thơ đầu tiên trên báo Văn Nghệ, Anh Chi đã chiếm được cảm tình của khá nhiều bạn đọc và đồng nghiệp, kể cả các nhà thơ bậc thày như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, đặc biệt nhà thơ Chế Lan Viên hết sức chú ý đến Anh Chi, ông đánh giá tài thơ anh ngang ngửa với Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương, Hữu Thỉnh...

Vẫn là “Thuyền than lại đậu bến than”, một đề tài đã không ít người khai thác, lại được thể hiện bằng một thể thơ truyền thống là lục bát. nhưng dưới ngòi bút Anh Chi, ta vẫn cảm nhận được một cái gì đó rất lung linh mới lạ, bởi anh không nhìn hiện thực bằng con mắt thông thường mà nhìn nó bằng sự rung động của con tim thông qua một câu hò xứ sở:

Ai hò một câu ấy thôi

Một triền sông Mã một tôi lúc này

Xòe tay sương đậu xuống tay

Đêm đen che khuất dày dày thuyền ken

Và thật bất ngờ khi bật ra một câu thơ tuyệt đẹp:

May sao câu ấy như đèn

Cho tôi thầm thấy mắt đen ai cười...

Đến đây, nhà thơ có thể tha hồ tưởng tượng:

 Đâu đó còn một chàng trai

Con thuyền đâu đó còn ngoài bến sông

Con sào cảm động cong cong

Cũng vít vổng và cũng mong lên bờ

Rồi lại một câu thơ rất đẹp hiện ra:

Một câu dư âm một câu

Dường như làm óng ả màu ban đêm

Xuân Diệu nói: ”Tôi giàu đôi mắt”. Đây không chỉ là niềm kiêu hãnh của thi nhân, nó còn là lời nhắn nhủ cho tất cả những người làm thơ muốn trở thành thi sĩ. Và Anh Chi đã thẩm thấu ngay được điều này, tới đâu anh cũng tìm ra một điểm nhìn riêng để rồi từ đó làm nên một tứ thơ độc đáo:

Mùa hạ xưa có anh lính bị thương

Anh tựa gốc cây máu anh chảy xuống

Nay thu về lá cây đỏ lấp lánh

Đỏ thấm mây xanh... chao ôi đúng rồi

Đưa máu yêu nước lên trời

Thành hoa nở ấy là đời Kim Cang

(Đời cây Kim Cang)

Tả một người con gái tình cờ nhìn thấy bên sông, Anh Chi cũng tạo ra mối giao cảm lạ lùng khiến người đọc phải rưng rưng cảm động:

Người con gái giặt áo bên sông

tóc đen rưng rức

tiếng vỗ nước

sao mà động lòng

tiếng vỗ nước khi liền khi đứt

dường như người ấy khóc

cùng tấm áo của một người...

Đi về miền gió Lào cát trắng, xung quanh là cát mênh mông, anh cũng phát hiện ra những điều bao đời nay vùi lấp dưới tầng sâu khiến người ta thổn thức:

Một ngôi miếu xưa lún sâu tám thước

Người ta đào lên thấy nguyên vẹn bát hương

Và hài cốt người muôn năm cũ

còn đỏ au dưới cát trắng ngần

Và bằng sự ngẫm ngợi sâu xa của mình, anh thức tỉnh người ta một điều gì đó:

Biết bao nhiêu là gió vần vụ

Với bao lần mặt trời bỏng rát đi qua

Máu xương xưa chuyển vần trong sâu thẳm

Nay cát tầng tầng như trang sách mở ra...

Thơ Anh Chi không chỉ có sức lay động trái tim người bởi sự liên tưởng xa xôi mà còn có sức nặng bởi chiều sâu tư tưởng. Và anh luôn có ý thức làm mới câu thơ bằng cách tước bỏ những câu chữ sáo mòn, thi thoảng lại chen vào một câu ngang ngang phá cách nhưng không làm mất đi nhịp điệu toàn bài:

Bom Mỹ dội gió và cát trắng muốt

Chỉ mươi hôm đã tự kín vết thương

Máu người đổ khiến cát đỏ nhoi nhói

Chỉ vài ngày cát trắng mượt phủ lên...

Những bài thơ như thế, những câu thơ như thế, có thể tìm thấy rất nhiều trong thơ Anh Chi, từ tập thơ đầu tay in chung với Yên Đức năm 1979 cho đến mãi sau này.

Ấy vậy trong lao động thơ, Anh Chi không hề tỏ ra vất vả, nhọc nhằn gì lắm. Khi đi trại sáng tác, anh làm việc cứ như chơi, thậm chí tôi còn cảm thấy hầu như anh chẳng làm gì cả. Hồi ấy ở Quảng Bá, tôi ở cạnh phòng anh, ở dãy nhà phía bên này, liền kề gian phòng nhỏ của vợ chồng nhà phê bình văn học Lê Quang Trang - Trần Thị Thắng. Phía bên kia, cách một khoảng sân là Nguyễn Phúc Lai, Nguyễn Hữu Nhàn, Thái Lãng, Nguyễn Thanh, Anh Động, Văn Định, Nguyễn Đắc Xuân... Cách một khoảng sân nhỏ nữa là Nguyễn Thị Đạo Tĩnh, lúc bấy giờ vừa đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ. Tất cả chúng tôi đều viết văn, duy nhất có Anh Chi làm thơ. Trong khi chúng tôi đều “đóng cửa hì hục viết” thì anh cứ đi lang thang hết chỗ này chỗ nọ, chốc chốc lại quay về gõ cửa phòng tôi, rủ đi đâu đó nhưng tôi đang mải viết, không đi. Nói mãi không ăn thua, Anh Chi đành chịu, bỏ ra vườn ổi đầu nhà, lát sau quay lại, tay cầm một nắm ổi xanh, ném đôm đốp vào cánh cửa phòng tôi, từng quả một. Tôi cáu lắm nhưng rồi cũng buông bút ra mở cửa. Anh Chi khoái trí cười như nghé, khoe với tôi là anh vừa nhìn thấy mấy chùm ổi chín trên cao, rủ tôi trèo lên vặt. Tôi cũng rất thích ăn ổi, liền theo anh ra vườn, trèo tót vót lên cao. Đạo Tĩnh từ xa thấy thế, cũng theo ra, bế theo đứa con nhỏ của vợ chồng Trang - Thắng. Hai thằng tôi đứng trên hai nhánh cây, ngó xuống qua cành lá rùm ròa, thấy gương mặt Đạo Tĩnh hiện ra, đẹp như trăng rằm, làm cả hai suýt ngã nhào xuống đất.

Mới đó mà đã hơn ba chục năm rồi.

Giữa buổi chiều thực

Không gian bụi mờ

Em ngồi lặng phắc

Như trong cơn mưa

 

Em đã chìm vào

Cơn mưa như khói

Một lần xa xưa

Mưa thời trẻ dại...

 

Một nỗi cô đơn

Tim anh thắt lại

Và anh lặng lẽ

Nhìn xa xôi mưa...

Đó là bài thơ mới viết của Anh Chi. Bài thơ còn dài nhưng tôi chỉ nhớ mấy câu như vậy. Anh đọc cho tôi nghe với giọng trầm buồn rồi ngồi lặng bên bàn, thả hồn theo dĩ vãng, mãi sau mới quay lại câu chuyện đang nói dở:

- Tôi nghĩ trong mỗi nhà văn đều phải có một nhà phê bình, nếu không anh ta sẽ không thể đi xa được. Nhà phê bình ấy càng thông tuệ, càng sâu sắc thì càng có lợi cho những sáng tác của anh ta. Và...

- Được rồi, được rồi! - Tôi ngắt lời anh - Nghe bài thơ mới viết của ông, tôi đã thấy rõ rồi. Bây giờ ta sẽ lại quay về với công việc đó. Gần đây tôi có nghe loáng thoáng về mối quan hệ giữa Lê Tràng Kiều với Hoài Thanh. Theo ông chuyện đó thế nào?

- Họ cùng thời với nhau và đều rất ủng hộ những người sáng tác trong thời kỳ đó. Nhưng tôi chẳng muốn đi sâu vào những chuyện này. Tôi viết về Lê Tràng Kiều bởi thấy ông ấy bị oan nhiều quá. Dường như người ta bỏ rơi ông trong suốt sáu mươi năm, người ta quên mất ông, không biết rằng ông là một trong những người đầu tiên khẳng định giá trị của phong trào Thơ mới, đánh giá đúng tầm lịch sử của Thơ mới. Ngoài ra ông luôn được xem là chỗ dựa tinh thần của các nhà văn nhà thơ lúc bấy giờ.

- Tức là ông dựa trên cơ sở văn bản cuốn Văn chương và hành động được gửi về từ Pháp?

- Một phần như vậy, phần nữa là tôi dựa theo Tuần báo Tiểu thuyết thứ năm được xuất bản từ năm 1937 đến 1940 do chính Lê Tràng Kiều làm chủ bút. Qua đây tôi còn phát hiện ra nhiều tư liệu quí, ví dụ như tiểu thuyết Quý phái của Vũ Trọng Phụng, tiểu thuyết Mưa xuân của Nguyễn Bính, cả hai cuốn này đều đã được đăng tải trên Tuần báo Tiểu thuyết thứ năm.

- Hay đấy nhỉ?

- Hay quá đi ấy chứ.  Tôi cho rằng đây là cả một miền trầm tích mà cho đến giờ vẫn rất ít người biết được. Đảm bảo ông mà vớ được những tư liệu quan trọng như tôi có hiện giờ, không chừng ông cũng bỏ luôn cả trang Web của mình mà lao vào tìm hiểu đấy.

- Tốt thôi. Nhưng tôi ngại những cuộc tranh cãi ồn ào lắm, vừa mất thì giờ vừa rách việc.

- Tôi cũng thế. Nhưng mình cứ làm việc công tâm, không dùng người này để phủ nhận người kia hoặc đi quá sâu vào chuyện riêng tư của họ nhằm khỏa lấp những gì họ có. Tôi nghĩ văn chương, cũng như mọi thứ khác, đều phải thật công bằng, cái gì cũng phải đặt nó về đúng chỗ của nó, mặc dù để tìm ra một chút sự thật lịch sử, chúng ta phải bỏ rất nhiều công sức, có khi còn rắc rối nữa song việc phải làm thì nhất định phải làm. Không phải làm cho cá nhân ai, mà cho văn học, cho lịch sử.

- Đúng vậy. Mong ông sớm hoàn tất việc làm hữu ích này và tiếp tục làm thơ.

- Tất nhiên rồi!

Chia tay Anh Chi trở về, tôi cảm thấy lòng đầy phấn khích. Thì ra trong cuộc mưu sinh hỗn độn này, khi đồng tiền được đề cao đến mức có thể làm xiêu đổ mọi giá trị, chi phối mọi hoạt động của con người, đến mức tưởng chừng ngoài chuyện đó ra, mọi thứ đều trở nên vô nghĩa. Vậy mà bạn bè ở khắp nơi vẫn không ai ngừng viết, họ sẵn sàng chấp nhận hi sinh nhiều thứ vì tác phẩm, và cao hơn thế, còn có người chịu hi sinh cả tác phẩm của mình vì một điều gì đó, lớn hơn. Bởi lẽ cái thông điệp về sự công bằng bác ái, về những giá trị nhân bản luôn được truyền tải trong mỗi con người, nhất là với những người cầm bút chân chính, cho dù họ sống ở thời nào, cũng vậy.

Nguyễn Đức Huệ

(hnv.vn)

Bình luận

* Vui lòng nhập bình luận tiếng Việt có dấu

Tin khác